|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 29/10/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Quýnh và bà Nguyễn Minh Trang
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Công- Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Thắng và bà Nguyễn Thị H – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Đức M, T gọi khác: Không; Sinh ngày 27/7/1998; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Lê Thanh T1 và bà Lê Thị Hồng N; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Vương Thị X; có 01 con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: chưa;
Bị cáo tại ngoại - có mặt tại phiên tòa
2. Trần Văn T2, T gọi khác: Không; sinh ngày 16/10/1981; Giới tính: Nam;Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Xuân V và bà Nguyễn Thị S; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị N1; có 03 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: chưa;
Bị cáo tại ngoại - có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Công ty TNHH một thành viên C – Chi nhánh B
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T3 – Giám đốc chi nhánh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Thị M1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Có danh sách kèm theo. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viêC (TNHH C) chuyển phát nhanh Thuận Phong có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0313617136, đăng ký lần đầu ngày 13/01/2016, lần gần nhất đăng kí thay đổi là ngày 13/7/2022, người đại diện theo pháp luật là ông Lưu Hy V1, sinh năm 1987 trú tại Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty TNHH MTV C quyết định thành lập chi nhánh với tên gọi Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên C - Chi nhánh B được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 0313617136-005, đăng ký lần đầu ngày 11/6/2018.
Ngày 20/11/2021, Công ty TNHH MTV C Chi nhánh B ra Thông báo số KT/455-2021/TB-J&T về việc thực hiện thu và nộp tiền COD tại các Khu vực quy định trách nhiệm của nhân viên giao hàng (S) là nộp đủ tiền theo bảng kê của nhân viên bưu cục (A) đã chốt theo quy định 02 lần/ngày (14h và trước khi đóng cửa bưu cục) và ký tên đầy đủ vào sổ quỹ tiền mặt tại bưu cục mỗi lần bàn giao tiền cho A.
Công ty TNHH MTV C Chi nhánh B ký hợp đồng lao động (gồm hợp đồng hợp tác, hợp đồng trách nhiệm, hợp đồng bảo mật thông tin) số 01230713/2023/HĐHT-JT ngày 08/5/2023 với Trần Văn T2 và hợp đồng lao động số 01387464/2024/HĐHT-JT ngày 10/01/2024 với Lê Đức M, thời hạn hợp đồng đều là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng với công ty.
Theo đó T2 và M thực hiện công việc là nhân viên giao hàng, được phân làm việc tại Bưu cục chuyển phát nhanh J&T Nam Sách, địa chỉ số F T, thị trấn N, huyện N. Hằng ngày T2 và M có trách nhiệm đến Bưu cục J&T Nam Sách, nhận các đơn hàng đã được quét mã, khởi tạo chuyến đi trên hệ thống nội bộ của Công ty (JMSVN - jms.jtexpress.vn) sau đó mang các đơn hàng trên giao cho khách theo địa chỉ ghi trên đơn hàng, thu tiền (COD) của khách hàng đối với các đơn hàng đã giao, phát thành công và nộp tiền về quỹ Công ty TNHH MTV C- chi nhánh B, thông qua quản lý bưu cục theo quy định. Số đơn hàng đã giao, phát thành công cho khách hàng, T2 và Minh nhập dữ liệu vào hệ thống của công ty, hệ thống tự động tính tiền, kê thành phiếu thể hiện tên nhân viên giao hàng; Ngày, tháng, năm giao hàng; Số lượng đơn hàng; Số tiền của từng đơn hàng; Tổng số tiền của các đơn hàng đã giao thành công phải nộp về Công ty. Các đơn hàng giao, phát không thành công (Không giao được hoặc khách hủy đơn hàng) thì T2 và M có trách nhiệm mang về, giao lại cho nhân viên quản lý Bưu cục J&T Nam Sách để xử lý theo quy định. Bản thân T2 và M khi vào làm việc tại công ty đã được phổ biến và hiểu rõ nhiệm vụ được giao của bản thân.
Vào ngày 15/5/2024, tại bưu cục J, hệ thống (JMSVN - jms.jtexpress.vn) của công ty ghi nhận Lê Đức M đã nhận từ bưu cục 135 đơn hàng; giao thành công và kí nhận trên ứng dụng quản lý 52/135 đơn hàng tương ứng với số tiền 23.029.064 đồng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, bưu cục đóng cửa, yêu cầu M bàn giao lại tiền hàng thu hộ (COD), tiền cước phí vận chuyển đã thu được từ khách hàng và hàng hóa còn lại nếu chưa giao được cho khách. Tuy nhiên M chỉ bàn giao lại cho bưu cục 83 đơn hàng chưa giao được, còn số tiền COD, phí vận chuyển tương ứng với 52 đơn hàng đã giao cho khách là 23.029.064 đồng thì M không bàn giao lại cho công ty, tự ý nghỉ việc vào ngày hôm sau và chiếm đoạt số tiền này để tiêu xài cá nhân.
Vào ngày 17/5/2024, tại bưu cục J, hệ thống (JMSVN - jms.jtexpress.vn) của công ty ghi nhận Trần Văn T2 đã nhận từ bưu cục 171 đơn hàng; giao thành công và kí nhận trên ứng dụng quản lý là đã giao được 141/171 đơn hàng tương ứng với số tiền 15.000.516 đồng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bưu cục đóng cửa, yêu cầu T2 bàn giao lại tiền hàng thu hộ (COD), tiền cước phí vận chuyển đã thu được từ khách hàng và hàng hóa còn lại nếu chưa giao được cho khách. Tuy nhiên T2 chỉ bàn giao lại cho bưu cục 30 đơn hàng chưa giao được và số tiền 8.074.000 đồng tương ứng với 53 đơn hàng đã giao được cho khách, còn số tiền COD là 15.000.516 đồng tương ứng với 88 đơn hàng đã giao cho thì T2 không bàn giao lại cho công ty, tự ý nghỉ việc vào ngày hôm sau và chiếm đoạt số tiền này.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện khắc phục, trả lại hết số tiền đã chiếm đoạt của Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh B. Đại diện theo ủy quyền của Công ty không yêu cầu đề nghị T2 và M phải bồi thường khoản tiền nào khác.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS-NS ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân huyện N, tỉnh Hải Dương truy tố Lê Đức M và Trần Văn T2 về tội Tham ô tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức M và Trần Văn T2 phạm tội Tham ô tài sản; Về hình phạt: căn cứ khoản 1 Điều 353, điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo Lê Đức M từ 25 đến 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 50 đến 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 từ 24 đến 25 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 50 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo M cho UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương và giao bị cáo T2 cho UBND xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo; Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, VKSND huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 15/5/2024, Lê Đức M có trách nhiệm quản lý 52 đơn hàng tương ứng với số tiền 23.029.064 đồng của Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh B nhưng đã chiếm đoạt số tiền trên để chi tiêu cá nhân.
Ngày 17/5/2024, Trần Văn T2 có trách nhiệm quản lý 88 đơn hàng tương ứng với số tiền 15.000.516 đồng của Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh B nhưng đã chiếm đoạt số tiền trên để chi tiêu cá nhân.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Lê Đức M chiếm đoạt 23.029.064 đồng tương ứng với 52 đơn hàng và Trần Văn T2 chiếm đoạt 15.000.516 đồng tương ứng với 88 đơn hàng của Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh B nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị cáo là độc lập không phải hành vi đồng phạm. Bị cáo M chiếm đoạt số tiền 23.029.064 đồng tương ứng với 52 đơn hàng và bị cáo T2 chiếm đoạt số tiền 15.000.516 đồng tương ứng với 88 đơn hàng của Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh B. Các bị cáo nhận thức được hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn mà mình được giao hiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý là hành vi trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo. Bị cáo M chiếm đoạt số tiền nhiều hơn bị cáo T2 nên bị cáo M phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T2.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt và đại diện Công ty TNHH MTV C – Chi nhánh B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo T2 còn tích cực tham gia công tác thiện nguyện tại địa phương, ủng hộ quỹ cứu trợ cấp huyện đợt cứu trợ do ảnh hưởng của con bão số 3 nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các bị cáo lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là hiện lao động tự do, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện khắc phục, trả lại hết số tiền đã chiếm đoạt của Công ty TNHH MTV C - Chi nhánh B. Đại diện theo ủy quyền của Công ty không yêu cầu đề nghị T2 và M phải bồi thường khoản tiền nào khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 353, điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ và Trần Văn T2 phạm tội "Tham ô tài sản".
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Đức M 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự; Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đức M và Trần Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Điệp |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tham ô tài sản
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức M cùng đp tham ô tài sản
