1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 25 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy và ông Trần Xuân Thuận
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Quang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Trung H, sinh ngày 18/02/1988, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L và bà Phạm Thị P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, từ ngày 10/6/2024 cho đến nay, theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn H1, sinh ngày 18/10/2001, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị L1; chưa có vợ con; tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 24/02/2022 có hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án số 34/2022/HS-ST ngày 15/7/2022; tiền sự: không.; về nhân thân: Ngày 19/2/2016 bị Chủ tịch UBND
2
xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 08/6/2016 bị Công an xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; 26/9/2016 bị Chủ tịch UBND xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã; Ngày 07/4/2017 bị Toà án nhân huyện T, tỉnh Quảng Bình áp dụng biện pháp hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 07/4/2017. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, từ ngày 10/6/2024 cho đến nay, theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Đặng Quốc T, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958; nơi cư trú: thôn Y, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- + Anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 10/6/2024, Nguyễn Trung H mượn xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển kiểm soát 73B1-071.67 (của anh Nguyễn Trường S là anh trai của H) để đi thị xã B, tỉnh Quảng Bình tìm mua ma túy. Khi đến ngã tư gần khu vực cầu K thuộc thị xã B thì gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể, H hỏi mua ma túy thì được người đàn ông đồng ý bán cho H 13 viên ma túy, loại hồng phiến với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào trong người rồi điều khiển xe đi về nhà của mình.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn H3 sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi vào ứng dụng Mesenger của F có tên “Nguyễn H1” nhắn tin đến Facebook có tên “Nguyễn Trung H” để hỏi mua ma túy, loại hồng phiến với số tiền 1.000.000 đồng, thì được H đồng ý bán. Sau đó, H1 mượn xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 73D1-076.37 (của bà Nguyễn Thị H2) đi đến cửa hàng điện thoại di động “Quốc Tùng Mobile” của anh Đặng Quốc T tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình để mượn số tiền 1.000.000 đồng (H1 đặt chiếc điện thoại lại để làm tin). H1 nhờ T chuyển khoản từ tài khoản 1040963835 Ngân hàng V mang tên Đặng Quốc T chuyển đến số tài khoản 532100013627237 Ngân hàng Đ mang tên Nguyễn Trung H số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, H bảo H1 đi đến địa
3
phận thôn L, xã C để nhận ma túy. Khi đến H đưa cho H1 một túi nilon màu đỏ, bên trong có chứa 13 viên ma túy loại hồng phiến, H1 lấy số ma túy cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi đến thôn M, xã P, huyện T để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện T phối hợp với Công an xã P bắt quả tang. Thu giữ 01 túi nilon màu đỏ, bên trong chưa 13 viên nen hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược. H1 khai nhận số viên nén trên là ma túy, loại hồng phiến mua của Nguyễn Trung H.
Tại bản kết luận giám định số: 630/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận: 13 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược thu giữ trong vụ án gửi trưng cầu giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,217 gam.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ:
- - 13 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược (đã được niêm phong). Sau giám định còn lại 0,974g cùng vỏ bao gói được bỏ vào 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “630/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chử ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha; số loại Sirius; màu sơn: Đen – Trắng; biển kiểm soát: 73D1-076.37, số khung: RLCS5C6K0DY142585; số máy: 5C6K142603, tình trạng đã qua sử dụng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha; số loại Exciter; màu sơn: Xanh – Trắng; biển kiểm soát: 73B1-071.67, số khung: 124631; số máy: 124650, tình trạng đã qua sử dụng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 11, màu trắng, số IMEI: 355435971663389, số IMEI 2: 355435970392907, gắn thẻ sim số: 0782796788, điện thoại đã qua sử dụng, của Nguyễn Trung H.
- - 01 thẻ ngân hàng B, mang dòng chử “NGUYỄN TRUNG HIẾU”, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Trung H.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màu đen, số IMEI 1: 860871063113008, số IMEI 2: 860871063113016, gắn thẻ sim số: 0876.726.749, điện thoại đã qua sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSTH ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Nguyễn Trung H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015
4
và Nguyễn Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Trung H từ 24 đến 27 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 18 đến 21 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 phong bì thư, trên ghi nội dung “630/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chử ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong phong bì thư có: 0,974 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A và toàn bộ vỏ bao gói; 01 thẻ ngân hàng B, mang dòng chử “NGUYỄN TRUNG HIẾU”, đã qua sử dụng; thẻ sim số: 0782796788; thẻ sim số: 0876.726.749.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 11, màu trắng, số IMEI: 355435971663389, số IMEI 2: 355435970392907, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màu đen, số IMEI 1: 860871063113008, số IMEI 2: 860871063113016, điện thoại đã qua sử dụng.
Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha; số loại Sirius; màu sơn: Đen – Trắng; biển kiểm soát: 73D1-076.37, số khung: RLCS5C6K0DY142585; số máy: 5C6K142603, tình trạng đã qua sử dụng cho bà Nguyễn Thị H2; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha; số loại Exciter; màu sơn: Xanh – Trắng; biển kiểm soát: 73B1-071.67, số khung: 124631; số máy: 124650, tình trạng đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Trường S.
Về án phí đề nghị: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa.
5
Nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội: Vào khoảng 15 giờ ngày 10/6/2024 tại tuyến đường liên thôn thuộc địa phận thôn L, xã C, huyện T, bị cáo Nguyễn Trung H đã bán cho bị cáo Nguyễn Văn H1 13 viên ma tuý loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Nguyễn văn H1 điều khiển xe mô tô đi đến địa phận thôn M, xã P để tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện T kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của H1 số lượng 13 viên ma tuý loại Methamphetamine. Tại bản kết luận giám định số 630/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q xác định 13 viên nén hình tròn, màu hồng là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,217g. Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo Nguyễn Trung H và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn H1 là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma tuý, nên cần được xử lý nghiêm. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đã trưởng thành, đủ khả năng để nhận thức được sự nguy hiểm và tác hại về tệ nạn ma túy nhưng để nhằm mục đích thỏa mãn cho bản thân nên dẫn đến hành vi phạm tội. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự để quyết định đối với các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để các bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời đảm bảo tính răn
6
đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội chưa được xoá án tích mà còn tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 sau khi bị bắt quả tang đã khai nhận số ma tuý trên là mua từ bị cáo Nguyễn Trung H nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, quy định tại điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo Nguyễn Trung H có bố là ông Nguyễn Thanh L được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, “Kỷ niệm chương quân khu Bình Trị T1” và “Kỷ niệm chương chiến sỹ trường sơn” nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông nội của bị cáo Nguyễn Văn H1 là ông Nguyễn Minh K được Nhà nước tặng thưởng “Huy chương kháng chiến hạng nhì” nhưng tình tiết trên không thuộc trường hợp được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
[5] Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 phong bì thư, trên ghi nội dung “630/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong phong bì thư có: 0,974 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A và toàn bộ vỏ bao gói; 01 thẻ ngân hàng B, mang dòng chữ “NGUYỄN TRUNG H”, đã qua sử dụng; thẻ sim số: 0782796788; thẻ sim số: 0876.726.749.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 11, màu trắng, số IMEI: 355435971663389, số IMEI 2: 355435970392907, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màu đen, số IMEI 1: 860871063113008, số IMEI 2: 860871063113016, điện thoại đã qua sử dụng.
7
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015 truy thu số tiền 1.000.000 đồng thu lợp bất chính từ hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý giữa bị cáo H và bị cáo H1.
Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha; số loại Sirius; màu sơn: Đen – Trắng; biển kiểm soát: 73D1-076.37, số khung: RLCS5C6K0DY142585; số máy: 5C6K142603, tình trạng đã qua sử dụng cho bà Nguyễn Thị H2 là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha; số loại Exciter; màu sơn: Xanh – Trắng; biển kiểm soát: 73B1-071.67, số khung: 124631; số máy: 124650, tình trạng đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Trường S là chủ sở hữu hợp pháp.
[6] Liên quan trong vụ án còn có người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã bán 13 viên ma túy cho Nguyễn Trung H, quá trình điều tra không xác minh được nên không có căn cứ để triều tra làm rõ.
[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Trung H và Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/6/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/6/2024.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Trung H và Nguyễn Văn H1 với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
-
Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 phong
8
bì thư, trên ghi nội dung “630/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong phong bì thư có: 0,974 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A và toàn bộ vỏ bao gói; 01 thẻ ngân hàng B, mang dòng chữ “NGUYỄN TRUNG H”, đã qua sử dụng; thẻ sim số: 0782796788; thẻ sim số: 0876.726.749.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 11, màu trắng, số IMEI: 355435971663389, số IMEI 2: 355435970392907, điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màu đen, số IMEI 1: 860871063113008, số IMEI 2: 860871063113016, điện thoại đã qua sử dụng.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015 truy thu số tiền 1.000.000 đồng thu lợp bất chính từ hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý giữa bị cáo H và bị cáo H1.
Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha; số loại Sirius; màu sơn: Đen – Trắng; biển kiểm soát: 73D1-076.37, số khung: RLCS5C6K0DY142585; số máy: 5C6K142603, tình trạng đã qua sử dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha; số loại Exciter; màu sơn: Xanh – Trắng; biển kiểm soát: 73B1-071.67, số khung: 124631; số máy: 124650, tình trạng đã qua sử dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trường S là chủ sở hữu hợp pháp.
Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện T và Chi cục Thi hành án án dân sự huyện T.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Trung H, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Án xử sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/10/2024 (đối với người có mặt tại phiên toà) hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
9
|
Nơi nhận:
|
TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Anh Tuấn |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản an hình sự Nguyễn Trung H và Nguyễn Văn H pham tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tú
