Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

“V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và bà Vũ Thị Thanh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/6/2024 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị B, sinh năm 2001.

Nơi thường trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: xóm H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh năm 2001.

Nơi thường trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Lê Thị B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B với anh Phạm Văn L tự nguyện về nhà bố mẹ đẻ của anh L tại xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh chung sống với nhau từ năm 2017. Trong quá trình chung sống chị B và anh L có sinh được 02 người con là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019, đến ngày 16/8/2022 chị B và anh L đăng ký kết hôn tại UBND xã C, thị xã Q, việc kết hôn của chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L trên sơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Lê Thị B ở tại xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, chúng hòa thuận, hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn âm ỉ, kéo dài, anh Phạm Văn L thường xuyên đánh đập đỉnh điểm của mâu thuẫn là tháng 3 năm 2024 anh Phạm Văn L đánh chị Lê Thị B gây thương tích phải đi điều trị tại bệnh viên Q và chị Lê Thị B về nhà mẹ đẻ tại xóm H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ở và ly thân với anh Phạm Văn L từ đó đến nay. Chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L không ai còn quan tâm đến ai. Nay, tình cảm của chị Lê Thị B dành cho anh Phạm Văn L không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Lê Thị B làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L.

- Về con chung: Chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L có 02 (Hai) con chung là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019. Khi ly hôn chị Lê Thị B mong muốn được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Phạm Văn L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật và đã niêm yết theo quy định cho anh Phạm Văn L, nhưng anh Phạm Văn L đi làm thỉnh thoảng mới về và các phiên họp và các buổi làm việc vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày quan điểm về việc chị B khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con chung.

Tại Biên bản xác minh ngày 26 tháng 7 năm 2024, đại diện chính quyền thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cung cấp: Chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L kết hôn ngày 16/8/2022 tại Ủy ban nhân dân xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình chung sống cả 2 không yêu cầu thôn hòa giải mâu thuẫn, khu chỉ biết vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cả 2 không còn chung sống với nhau. Nay chị Lê Thị B yêu cầu giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L có 02 (Hai) con chung là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019. Trường hợp cả hai ly hôn đề nghị Tòa án xem xét điều kiện của hai bên để giao con cho phù hợp. Về tài sản thôn không nắm được.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu ý quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị B. Xử: Chị Lê Thị B được ly hôn anh Phạm Văn L; về con chung, giao 02 (Hai) con chung là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019 cho chị Lê Thị B nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi), anh Phạm Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và vay nợ chung, các đương sự không có yêu cầu giải quyết; về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị B khởi kiện về việc ly hôn với anh Phạm Văn L và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn anh Phạm Văn L có nơi cư trú tại thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị B có mặt; bị đơn anh Phạm Văn L đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn đảm bảo đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L có đăng ký kết hôn từ năm 2022 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau; anh Phạm Văn L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có quan điểm về vấn đề yêu cầu ly hôn và nuôi con chung. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị B đối với anh Phạm Văn L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L có 02 (Hai) con chung là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019. Chị Lê Thị B có quan điểm trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cả 02 (Hai) con chung là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019; anh Phạm Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, 02 (Hai) con chung là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019 ở với chị B từ bé và từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, đến nay chị Lê Thị B vẫn đang nuôi dưỡng và chăm sóc, anh Phạm Văn L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có quan điểm về vấn đề con chung, như vậy xem xét nguyện vọng nuôi con chung của chị Lê Thị B là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về việc nuôi dưỡng con chung của chị Lê Thị B, giao 02 (Hai) con chung là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019, cho chị Lê Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Phạm Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, anh Phạm Văn L có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Lê Thị B và anh Phạm Văn L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Lê Thị Ba P chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị B.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B được ly hôn anh Phạm Văn L.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 (Hai) con chung là Phạm Đức D, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2018 và Phạm Ánh D1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2019, từ ngày 30/9/2024 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Phạm Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Sau ly hôn, anh Phạm Văn L không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời đương sự không trực tiếp nuôi dưỡng con chung không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị Ba P chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Lê Thị B đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003898 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, chị Lê Thị B đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh
  • - VKSND thị xã Quảng Yên.
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Yên.
  • - UBND xã Liên Vị, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh (Nơi ĐKKH)
  • - Đương sự.
  • - Lưu án văn + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị Ba được ly hôn anh Phạm Văn Lương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger