Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30-9-2024.

(Về việc: Tranh chấp ly hôn)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan
Bà Vũ Thị Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà: bà Lê Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 183/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1974
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố số A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1962
Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố số A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình;
Địa chỉ hiện nay: Bệnh viện Đ, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/6/2024 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là bà Bùi Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị T và ông Phạm Văn T1 đã tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, đăng ký kết hôn ngày 09 tháng 10 năm 1996. Quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn từ đầu ngay sau khi kết hôn do bà T phát hiện ông T1 nghiện rượu. Mặc dù đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông T1 không thay đổi. Bà T đã làm đơn ly hôn cả lần này là 03 lần. Nhưng vì thương con nên cố gắng duy trì hôn nhân. Tuy nhiên khoảng 03 năm gần đây ông T1 bị bệnh tiểu đường trở nặng phải cưa chân, bà T đã chăm sóc một thời gian dài nhưng ông T1 vẫn lén lút uống rượu. Bản thân bà T đã không còn tình cảm với ông T1 từ lâu nhưng ngại dư luận nên trì hoãn không ly hôn và những lần làm đơn ly hôn trước do ông T1 xin bà rút đơn ly hôn và hứa thay đổi nên bà lại mủi lòng. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông T1 nghiện rượu, ốm bệnh nhiều năm bà T không còn đủ kiên trì, sức khỏe để chăm sóc ông T1. Vì không chăm sóc được nên bà chịu áp lực điều tiếng từ gia đình chồng. Bà cảm thấy không thể cố gắng được nữa và gần hai năm trở lại đây đã không thực hiện được và không muốn thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng là chăm sóc đối với ông T1. Do bà không chăm sóc được ông T1 nên mấy năm nay đều do anh em ruột của ông T1 mang về quê tại H - Thái Bình để tiện chăm sóc. Ông T1 do bị bệnh nên thường xuyên nằm viện điều trị và điều dưỡng hai năm gần đây cho đến nay. Đến nay bà T không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Văn T1.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung là Phạm Ngọc T2, sinh ngày 23/12/1997 và Phạm Phương T3, sinh ngày 07/5/2003. Ly hôn bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung do các con đều trên 18 tuổi hoàn toàn khỏe mạnh, trưởng thành.

Về tài sản chung: Bà T xác nhận chưa yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Về công nợ chung: Bà T xác nhận vợ chồng ông bà không vay nợ chung của tổ chức, cá nhân nào do vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà T đề nghị giải quyết án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Phạm Văn T1:

Tòa án tiến hành ủy thác lấy lời khai của ông T1, ông xác nhận ông và bà Bùi Thị T là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Ông và bà T không có mâu thuẫn gì, bà T đề nghị ly hôn ông T1 không đồng ý ly hôn. Ông xác nhận vợ chồng có hai con chung và con đã trưởng thành ông không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản và công nợ. Sau khi nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, ông yêu cầu Tòa án tạm dừng chờ ông khỏi bệnh ra viện sẽ về giải quyết. Tòa án đã tiến hành hoãn phiên tòa do vắng mặt 1 bên lần thứ nhất không có lý do. Do gửi qua bưu điện V thực hiện ủy thác của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà được gửi đến muộn sau khi đã có việc hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tòa án đã tiến hành hoãn phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà đã nhận ủy thác giao quyết định hoãn phiên tòa cho ông T1 và xác minh bổ sung tình trạng hôn nhân và việc thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng ông T1, bà T. Ông thỏa cung cấp thông tin trong suốt 2-3 năm nay ông ốm đau thường xuyên nằm viện, chỉ về nhà 1-2 ngày lại nhập viện do biến chứng của bệnh. Việc chăm sóc ông T1 hoàn toàn do anh chị em của ông T1 tại quê và hai con gái của ông thực hiện, bà T không chăm sóc ông. Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ông T1 đã được Tòa án triệu tập, giao văn bản tố tụng hợp lệ, lấy lời khai. Do ông T1 luôn trong tình trạng nằm điều trị tại bệnh viện, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để ông T1 biết nhưng ông vẫn vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù lý do vắng mặt là do ông luôn trong tình trạng nằm viện điều trị nhưng Tòa án đã ủy thác và lấy ý kiến của ông, xác minh tình trạng hôn nhân đảm bảo ông thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an phường T nơi ông Phạm Văn T1 đăng ký thường trú. Kết quả xác minh cho thấy: Ông Phạm Văn T1 có đăng ký thường trú tại tổ dân phố số A phường T, thành phố H tỉnh Hòa Bình và có chỗ ở tại địa chỉ đăng ký thường trú nêu trên. Tuy nhiên, do nhiều tháng nay ông T1 điều trị tại Bệnh viện, nghe nói do anh em nhà ông T1 đưa ông T1 về quê tiện người chăm sóc.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú, khu dân cư T, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, đại diện chi hội phụ nữ số 1 khu dân cư cho biết bà Bùi Thị T và ông Phạm Văn T1 là vợ chồng hợp pháp. Từ lâu vợ chồng bà T và ông T1 mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do ông T1 hay uống rượu say, nghiện thuốc lá và khó tính nên vợ chồng nhiều năm không hạnh phúc, bà T nhiều lần muốn ly hôn nhưng vì thương con nên lại thôi. Bà T thường buồn phiền, cam chịu nhiều năm chăm sóc chồng ốm đau nhưng do vẫn đang công tác nhà nước nên cũng không có thời gian, điều kiện chăm sóc trực tiếp, nghe phản ánh là bà T có mâu thuẫn với gia đình chồng về việc chăm sóc ông T1. Ông T1 và bà T có 02 con chung là con gái hoàn tòan khỏe mạnh, đã đi làm và đi học đại học.

Tòa án tiến hành xác minh đối với con chung của ông T1 và bà T là chị Phạm Phương T3, chị cho biết: Từ khi chị T3 còn nhỏ cho đến khi nhận thức được mọi vấn đề xung quanh thì thấy mẹ là bà T và bố là ông T1 chung sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau nhiều năm nay. Nguyên nhân chủ yếu do ông T1 thường xuyên uống rượu say và nghiện thuốc lá. Bà T là người sống giản dị, thật thà, là giáo viên chỉ biết đi dạy học và chăm lo cho chồng con, sống cam chịu, nhẫn nhục. Bố mẹ chị (bà T và ông T1) bất đồng quan điểm, lối sống rất nhiều năm rồi. Mẹ chị (bà T) đã nhiều lần làm đơn xin ly hôn nhưng vì bố hứa sửa chữa: cai rượu, cai thuốc và thay đổi cách sống nên bà T lại thôi không ly hôn nữa. Do ông T1 ốm đau càng thêm khó tính và vẫn nghiện rượu, nghiện thuốc. Hiện nay ông T1 đang được họ hàng ở quê ông T1 chăm sóc. Bà T tâm lý luôn u uất, nặng nề, không ngủ được ảnh hưởng đến sức khỏe. Chị T3 đã nhận các giấy tờ và giao tận tay cho ông T1 nhưng ông T1 không nói gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

- Về tố tụng : Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn do nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn dù đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T; xử cho bà Bùi Thị T được ly hôn ông Phạm Văn T1.

Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Ngọc T2, sinh ngày 23/9/1997 và Phạm Phương T3, sinh ngày 07/5/2003, các con hòan toàn khỏe mạnh và trên 18 tuổi nên bà không đề nghị xem xét giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết về con chung.

Về tài sản chung: Bà T khai chưa yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về công nợ chung: Bà T khai không có, không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc bà Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng. Việc giải quyết, xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng đã bảo đảm các quy định tại Điều 207, Điều 208, Điều 209, Điều 210; Điều 227, 228, 238, 254 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng là các Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đã bảo đảm đúng các quy định tại Điều 173, 177, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự về cấp, tống đạt, niêm yết công khai văn bản tố tụng.

Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, hiệc hoãn phiên tòa lần thứ nhất cũng đã bảo đảm quy định tại Điều 233 của Bộ luật tố tụng dân sự và bảo đảm quyền được tham gia tố tụng của bị đơn. Mặc dù có trở ngại khách quan do ông T1 liên tục trong tình trạng nằm viện điều trị bệnh nhưng Tòa án đã ủy thác lấu lời khai, lấy ý kiến của bị đơn đảm bảo cho bị đơn thực hiện quyền của bị đơn theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị T và ông Phạm Văn T1 khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 10 năm 1996 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy hôn nhân giữa bà Bùi Thị T và ông Phạm Văn T1 được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T1 hay uống nhiều rượu, nghiện thuốc lá, vợ chồng bất đồng về quan điểm, lối sống, vi phạm nghĩa vụ chăm sóc nhau giữa vợ chồng khi ông T1 đau ốm. Thực tế vợ chồng đã ly thân kéo dài nhiều tháng, ông T1 không đến Tòa án để tham gia lấy lời khai, hòa giải do ông thường xuyên nằm viện điều trị bệnh tiểu đường. Tuy nhiên Tòa án đã ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xác minh cho thấy bà T đã không còn tình cảm và không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc ông T1 khi đau ốm trong nhiều tháng nay. Cuộc hôn nhân giữa bà T và ông T1 nguyên nhân mâu thuẫn đã nhiều năm do khác biệt về lối sinh hoạt, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, mỗi người một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần liên hệ nhưng ông T1 nói không muốn ly hôn và không gửi văn bản cho Tòa án thể hiện quan điểm. Mặt khác bà T nhất quyết đề nghị ly hôn dù phải đi đến các cấp xét xử, dù Thẩm phán khuyên bà T hàn gắn quan hệ hôn nhân do ông T1 đang đau ốm, nhưng bà T đã nhiều lần thực hiện thủ tục ly hôn rồi rút đơn, bản thân bà không còn tình cảm và không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc với ông T1 bà cương quyết phải ly hôn. Do ông T1 nhiều năm luôn trong tình trạng nằm viện và người thân của ông T1 và các con chăm sóc ông, vợ chồng không còn thực hiện nghĩa vụ chăm sóc với nhau lúc ốm đau ngay cả khi bà T nghỉ hè có điều kiện chăm sóc. Bà T cũng không còn tình cảm với ông T1 từ nhiều năm nay, đề nghị giải quyết ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Bùi Thị T và ông Phạm Văn T1 đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Nguyên nhân ly hôn do mâu thuẫn về lối sống và sinh hoạt từ nhiều năm. Mặt khác ông T1 nằm viện nhiều năm nhưng khi Tòa án lấy lời khai, ý kiến và xác minh tại bệnh viện Đ - Thái Bình, nơi ông T1 điều trị, ông T1 hoàn toàn minh mẫn và không đồng ý ly hôn, nhưng việc bà T trong nhiều năm đã gửi đơn ly hôn nhiều lần có nguyên nhân bất đồng về lối sống sinh hoạt và không còn tình cảm cho thấy không thể hàn gắn hôn nhân để vợ chồng đoàn tụ. Việc duy trì hôn nhân chỉ tạo thêm gánh nặng tâm lý cho các bên khi cả hai không còn thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, bà T không còn quan tâm chăm sóc ông T1 khi đau ốm. Việc ông T1 điều trị bệnh liên tục từ trước đến nay do người thân của ông T1 và hai con gái đảm nhận chăm sóc, về viện phí và chi phí sinh hoạt khi nằm viện điều trị đã được gia đình chủ động sắp xếp từ tài sản chung của vợ chồng và do con gái lớn của ông T1 đứng ra đảm nhận. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị T đối với ông Phạm Văn T1 là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Phạm Thị T4 và ông Phạm Văn T1 có 02 (hai) con chung là là Phạm Ngọc T2, sinh ngày 23/12/1997 và Phạm Phương T3, sinh ngày 07/5/2003. Ly hôn bà T4 không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung do các con đều trên 18 tuổi hoàn toàn khỏe mạnh, trưởng thành. Do vậy hồi đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung: Bà Bùi Thị T, ông Phạm Văn T1 chưa yêu cầu giải quyết về tài sản chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về công nợ chung: Bà Bùi Thị T, ông Phạm Văn T1 khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điểm a, b khoản 2 Điều 227, 228, 238, 254; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị T về việc xin ly hôn với ông Phạm Văn T1.

    Bà Phạm Thị T4 được ly hôn với ông Phạm Văn T1.

  2. Về con chung: Các con đã trên 18 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không xem xét giải quyết.
  4. Về công nợ chung: Xác nhận các đương sự khai không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000446 ngày 03/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình chuyển thành án phí cho bà Bùi Thị Tuyết .
  6. Về quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị T và ông Phạm Văn T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND thành phố Hòa Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Hòa Bình;
  • - UBND phường Tân Thịnh (Nơi đăng ký kết hôn);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Đà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger