TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 28-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ, ông Võ Quốc Linh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bính – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trường Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST- HS ngày 10/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Sỹ T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/7/1964; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/10; Con ông Nguyễn Sỹ C và bà Đặng Thị T1; Có vợ: Nguyễn Thị H và 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/6/2024 đến nay; Có mặt.
- Bị hại: Anh Đường Thanh H1; Sinh năm: 1975; Đã chết; Nơi cư trú trước khi chết: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị H2; Sinh năm 1985; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vợ bị hại).
- Người làm chứng:
- + Ông Nguyễn Công T2; Sinh năm 1971; Đia chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
- + Anh Võ Tiến D; Sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Sỹ Đ; Sinh năm 1996; Đia chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
- + Ông Đường Đăng T3; Sinh năm 1961; Đia chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 29/4/2024, Nguyễn Sỹ T điều khiển xe công nông tự chế, màu xanh đến núi T, thuộc thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để gom củi về bán. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, sau khi gom củi xong, Nguyễn Sỹ T điều khiển xe công nông lưu thông theo đường nội thôn Đ đi theo hướng ra đường Đ để về nhà. Khi đi đến đoạn ngã ba giao nhau giữa đường nội thôn và ra đường C, Nguyễn Sỹ T điều khiển xe công nông đánh lái sang trái, nhằm mở rộng góc cua để tránh hàng cây dây leo trên dây điện xoã xuống đường, tránh vướng vào thùng xe. Khi xe công nông đi vào ngã ba, đầu xe đi lấn vào phần đường bên phải giành cho các phương tiện lưu thông trên đường Đ theo hướng núi T đi ra đường Q. Lúc này, Nguyễn Sỹ T thấy phía trước có xe mô tô biển kiểm soát 38C1 – 106.64 kéo theo xe hai bánh tự chế do anh Đ1 Thanh Huể điều khiển đang di chuyển với tốc độ cao, đi trên phần đường bên phải đường ĐH 34 hướng từ núi T đi theo đường Q. Thấy vậy Nguyễn Sỹ T bóp phanh xe công nông để dừng lại, tuy nhiên do khoảng cách quá gần và do quán tính nên phần đầu bên phải của xe công nông tự chế do Nguyễn Sỹ T điều khiển đã va chạm với phần tay cầm bên trái, mặt nạ và phần ướm bên trái của xe mô tô do anh Đ1 Thanh Huể điều khiển, hai phương tiện đã va chạm vuông góc với nhau. Sau khi va chạm, xe mô tô của anh H1 ngã nghiêng sang bên phải xuống đường, xe bò kéo thì bị văng ra khỏi xe mô tô nằm ngang theo đường, còn anh H1 bị ngã xuống đường nằm trên vệ cỏ. Lúc này xe công nông tự chế nằm ngang đường liên thôn, Nguyễn Sỹ T vẫn ngồi trên xe. Anh Đường Thanh H1 bị thương nặng và tử vong ngay sau đó, các phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
Kết quả kiểm tra thể hiện bị cáo Nguyễn Sỹ T và bị hại Đường T đều không có nồng độ cồn khi tham gia giao thông.
* Biên bản khám nghiệm hiện trường phản ánh:
a) Hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định là tại Ngã ba giao nhau giữa đường ĐH34 với đường nội thôn thuộc thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được đổ bê tông, bằng phẳng rộng 5,40m, không có vạch kẻ đường phân chia làn đường, không có biển báo giao thông đường bộ.
b) Xác định điểm mốc và mép đường nơi tai nạn làm chuẩn.
Lấy mép đường bên trái đường ĐH34 theo hướng từ đường Q đi đường ĐT554 làm mép chuẩn, lấy tâm cổng nhà ông Nguyễn Sỹ T4 làm điểm mốc để định vị dấu vết, phương tiện tại hiện trường vụ tai nạn.
c) Mô tả theo số thứ tự nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.
- - Xe công nông kích thước (4,47x1,8)m, nằm trong khu vực ngã ba giao nhau giữa đường ĐH34 với đường nội thôn. T5 trục bánh sau bên trái cách điểm mốc 16,6m và cách mép chuẩn 3,82m, tâm trục bánh trước bên trái cách mép chuẩn 1,45m. Ký hiệu (1);
- - Vùng vết cày, xước mặt đường kích thước (1,5x0,2)m, có điểm đầu cách tâm trục bánh sau bên trái xe công nông 1,65m và cách mép chuẩn 2,50m, điểm cuối cách mép chuẩn 1,42m. Ký hiệu (2);
- - Vết phanh xe kích thước (1,13x0,2)m, có điểm đầu cách điểm đầu vết 2 là 0.8m và cách mép chuẩn 2,8m, điểm cuối cách mép chuẩn 1,7m. Bánh trước bên phải xe công nông đè lên dấu vết (7). Ký hiệu (3);
- - Xe mô tô biển kiểm soát 38C1-106.64, có trục bánh trước cách trục bánh trước bên trái xe công nông là 0,65m và cách mép chuẩn là 1,34m, trục bánh sau cách mép chuẩn là 1,62m. Ký hiệu (4).
- - Mũ bảo hiểm kích thước (0,27x0,22)m, tâm cách trục bánh trước xe trước xe mô tô biển kiểm soát 38C1-106.64 là 0,6m và cách mép chuẩn là 0,4m. Ký hiệu (5);
- - Vùng máu kích thước (0,8x0,8)m, có tâm cách tâm mũ bảo hiểm là 0,34m và cách mép chuẩn theo chiều từ phải qua trái là 0,4m. Ký hiệu (6);
- - Vết cày, xước mặt đường kích thước (1,75x0,03)m, có điểm đầu cách tâm điểm đầu dấu vết (2) là 0,5m và cách mép chuẩn là 2,5m, điểm cuối cách mép chuẩn là 1,7m. Ký hiệu (7);
- - Xe tự chế hai bánh, kích thước (3x1,02)m, có trục bánh bên phải cách mép chuẩn là 3,6m, trục bánh bên phải cách trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 38C1-106.64 là 1,05m và cách mép chuẩn là 3,45m. Ký hiệu (8);
d) Phương tiện, tang vật, dấu vết và mẫu so sánh thu được:
- - 01 xe công nông kích thước (4,47 x1,80x2,80) m;
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát 38C1-106.64;
- - 01 mũ bảo hiểm màu đen, kích thước (0,27 x0,22) m;
- - 01 xe bò kéo, kích thước (3,00 x1,02) m.
* Biên bản khám nghiệm tử thi anh Đường Thanh H1 phản ánh:
a) Khám ngoài:
- - Tử thi là nam giới, được xác định là anh Đường Thanh H1, sinh năm 1975, thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Tình trạng tử thi: Tử thi đang trong giai đoạn lạnh.
- - Chiều dài đỉnh - gót: 160 cm, thể trạng trung bình.
- - Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
- + Hốc mắt phải bầm tụ máu
- + Mũi có máu chảy ra
- + Vùng cằm có vết thương, kích thước 3 x 2 cm, bờ mép nham nhở, sâu vào lớp cơ.
- + Vùng cổ, ngay nắp sụn thanh quản có vết sưng nề, bầm tụ máu trên diện 6 x 3 cm, trên nền sưng nề có vết thương, kích thước 2 x 0,2 cm.
b) Khám trong: Giải phẫu vùng cổ:
- - Tụ máu dưới da, cơ vùng cổ.
- - Đứt động mạch, tĩnh mạch cảnh ngoài bên trái.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 636/KL-KTHS ngày 03/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh H xác định nguyên nhân chết của anh Đường Thanh H1: Mất máu cấp.
* Biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 38C1 – 106.64 kéo theo xe tự chế hai bánh do anh Đường Thanh H1 điều khiển phản ánh:
a) Dấu vết trên phương tiện.
- - Cung trước chắn bùn bánh trước có dấu vết gãy vỡ, trượt xước, kích thước (23x15)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 66cm;
- - Mặt nạ phía trước có dấu vết gãy vỡ, trượt xước, kích thước (27x26)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải, tâm dấu vết cao cách mặt đất 86,5cm.
- - Cánh ướm bên trái có dấu vết gãy vỡ, trượt xước, kích thước (20x21)cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 69cm.
- - Đèn chiếu sáng phía trước, đèn chuyển hướng bên trái bị bung rời khỏi phương tiện.
- - Góc bên trái tay lái phía trước có dấu vết gãy vỡ, kích thước (15x11,5)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 98cm.
- - Mặt ngoài tay lái bên trái có dấu vết trượt xước, kích thước (6x2,5)cm, chiều hướng từ trái sang phải, tâm dấu vết cao cách mặt đất 100cm.
- - Góc phía trước bên trái bảng điều khiển có dấu vết nứt vỡ, kích thước (8x3)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 103cm.
- - Mặt gương chiếu hậu bên trái bị gãy bung rời khỏi phương tiện.
- - Cụm gương chiếu hậu bên phải bị gãy bung rời khỏi phương tiện.
- - Mặt ngoài bàn đạp phanh có dấu vết mài trượt, kích thước (2x0,5)cm, chiều hướng từ dưới lên trên, tâm dấu vết cao cách mặt đất 26cm.
- - Bàn đạp chân phía trước bên phải bị xô lệnh, chiều hướng từ phải qua trái. Đầu mút của bàn đạp chân có dấu vết mài trượt, bám dính chất màu trắng, kích thước (4x3)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 30cm.
- - Mặt ngoài của cần khởi động có dấu vết trượt xước, kích thước (14,5x1,2)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 29cm.
- - Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả có dấu vết mài trượt kim loại, kích thước (48x5,5)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 28cm.
- - Cụm đèn hậu bị xô lệch chiều hướng từ trên xuống dưới.
- - Góc bên phải của BKS có dấu vết nứt vỡ, bám dính gỗ màu nâu, kích thước (7x6,5)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 59cm.
b) Kỹ thuật an toàn phương tiện: Không.
c) Xe kéo tự chế hai bánh:
- - Trên xe có chở nhiều cành cây được giằng buộc bằng dây cao su màu đen, phía trên có 01 cái bàn.
- - Càng phía trước bên trái có dấu vết cong gập, kích thước (6x4)cm, khoảng cách giữa điểm gấp khúc của càng xe đến điểm đầu của càng là 72cm.
* Biên bản khám nghiệm phương tiện xe công nông tự chế do bị cáo điều khiển phản ánh:
a) Dấu vết trên phương tiện.
- - Mặt bên phải của móc tời phía trước có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng, kích thước (13,5x9,8)cm, chiều hướng phải qua trái, tâm dấu vết cao cách mặt đất 61cm.
- - Góc phía trước bên phải đầu xe có dấu vết cong vênh, trượt xước, bám dính chất màu trắng, kích thước (75x30)cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm dấu vết cao cách mặt đất 86cm.
- - Mặt ngoài khung kim loại C1 phía bên phải (dấu vết ở phía trên bánh trước bên phải) có dấu vết trượt mất bụi, có bám dính vỏ cây, kích thước (46x22) cm, chiều hướng từ phải sang trái, tâm dấu vết cao cách mặt đất 90cm.
b) Kỹ thuật an toàn phương tiện: Không
* Giám định dấu vết cơ học phản ánh:
Kết luận giám định số 700/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định:
- - Xe công nông tự chế và xe mô tô mang biển kiểm soát 38C1 – 10664 có va chạm với nhau:
- + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện: Mặt bên phải móc tời phía trước xe công nông tự chế va chạm với cung trước chắn bùn phía trước xe mô tô; Góc bên phải đầu xe công nông tự chế va chạm với góc bên trái ốp tay lái phía trước, góc bên trái mặt nạ phía trước và cánh ướm bên trái xe mô tô.
- + Xe công nông tự chế và xe mô tô mang biển kiểm soát 38C1 – 10664 va chạm vuông góc với nhau.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ các đồ vật, tài sản sau:
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát 38C1 – 106.64, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu đen, xe đã qua sử dụng, kèm theo giấy đăng ký xe mô tô; giấy phép lái xe số R524255, MS SB63031, có giá trị không thời hạn và giấy chứng nhận bảo hiểm số 0050855 của xe mô tô biển kiểm soát 38C1 -106.64, có giá trị đến ngày 31/5/2024, đều mang tên Đường Thanh H1.
- - 01 chiếc xe kéo hai bánh tự chế có khung bằng kim loại, sàn và thành xe bằng gỗ của anh Đường Thanh H1.
- - 01 xe công nông tự chế, màu xanh của Nguyễn Sỹ T.
- - 01 mũ bảo hiểm màu đen của anh Đường Thanh H1.
Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại mũ bảo biểm, xe mô tô biển kiểm soát 38C1 – 106.64, xe bò kéo 02 bánh tự chế cùng giấy tờ liên quan cho người đại điện hợp pháp của anh Đường Thanh H1. Còn 01 xe công nông tự chế của Nguyễn Sỹ T đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc.
Ngày 06/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành bản kết luận điều tra số 41/KLĐT, đề nghị truy tố Nguyễn Sỹ T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự;
Ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố Nguyễn Sỹ T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-CL.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi như Cáo trạng truy tố. Đại diện bị hại trình bày đã nhận đủ 140.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại, không yêu cầu gì thêm về dân sự.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Tịch thu tiêu huỷ tính năng sử dụng, hoá giá phế liệu để sung quỹ Nhà nước đối với xe công nông tự chế của bị cáo; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và đại diện bị hại không tranh luận với Kiểm sát viên, đều xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
- - Xét hành vi của bị cáo: Xe công nông tự chế là phương tiện cấm lưu hành nhưng bị cáo vẫn sử dụng để tham gia giao thông đường bộ, trong khi điều khiển không chú ý quan sát, chuyển hướng không an toàn, đi vào làn đường giành cho xe mô tô dẫn đến va chạm với xe mô tô do anh Đường Thanh H1 điều khiển dẫn đến hậu quả làm Đường T tử vong. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- - Xét hành vi của bị hại: Bị hại điều khiển xe khi đến ngã ba giao nhau giữa đường Đ và đường nội thôn Đ không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên cũng có một phần lỗi.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận, thực hiện với nhau, tại phiên toà không ai có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trả lại một số tài sản, đồ vật trong giai đoạn điều tra cho đại diện gia đình bị hại là phù hợp.
Đối với xe công nông tự chế của bị cáo thì cần phải tịch thu, xử lý bán phế liệu để sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; khoản 1 Điều 32 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 2, Nghị quyết số 32/2007/NQ – CP của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm hạn chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông của Chính phủ;
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ T: 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/9/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Sỹ T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, xử lý bán phế liệu, sung quỹ Nhà nước đối với xe công nông tự chế màu xanh của Nguyễn Sỹ T. Tình trạng đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Sỹ T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ T phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ T: 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/9/2024).
