Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BA

TỈNH PHÚ THỌ

Bản số: 44/2024/HS-ST

Ngày 11/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Kiều Công Ích
  2. Bà Vương Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Anh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đức H (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 05/8/1991 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tiến L, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; vợ là Phùng Thị Kim D, sinh năm 1991; có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

  3. Bùi Duy C (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 01/6/1991 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm 1959; vợ Nguyễn Thị V, sinh năm 1992; có 04 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: 01 (Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Bùi Duy C đã chấp hành xong hình phạt, nộp 10.000.000₫ và o ngày 25/3/2024, nộp 10.000.000₫ và o ngày 01/4/2024 và nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 25/3/2024), Tiền sự: Không.
  4. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1984
  • Nơi cư trú: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

  • + Anh Đỗ Thanh H3, sinh năm 1995
  • Nơi ĐKHKKTT: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    Chỗ ở hiện nay: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

  • + Anh Đặng Ngọc S, sinh năm 1986
  • Nơi cư trú: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

  • + Anh Không Quang T, sinh năm 1975
  • Nơi cư trú: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 40 phút ngày 21/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an xã Đ, huyện T kiểm tra tại quán bia của gia đình Lý Thị Thúy N sinh năm 1992 thuộc khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ phát hiện Nguyễn Tiến Q sinh năm 1984 trú tại khu F, thị trấn T, huyện T và Nguyễn Cao C1 sinh năm 1986, trú tại khu B, xã M, huyện T đang ngồi uống bia tại quán có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô của Nguyễn Đức H sinh năm 1991, trú tại khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản sự việc về hành vi đánh bạc, tạm giữ một số đồ vật, tài sản gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng- hồng, số kiểu máy A1601, số Imei 1: 863897036156979, số Imei 2: 863897036156961, điện thoại đã qua sử dụng, không gắn sim; Tiền ngân hàng N1 1.350.000đồng (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan CSĐT Nguyễn Đức H đã khai nhận hành vi bán số lô, số đề như sau:

Do quen biết Đoàn Thị Bình sinh năm 1955 trú tại khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và biết B nhận bảng số lô, số đề nên ngày 19/3/2024 H một mình đến gặp B đặt vấn đề làm thư ký cho B. B đồng ý và cho H tài khoản zalo là “Lan Điệp” để nhắn tin chuyển các số lô, số đề sau khi bán cho khách. Đối với số lô B tính giá 22.000đ/1 điểm lô, đối với số đề B triết khấu cho H 25% tổng số tiền đề.

Hình thức bán số lô, số đề của Nguyễn Đức H như sau: Nguyễn Đức H và những người tham gia đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề. Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày để làm căn cứ tính toán thắng thua. Đối với số đề: Người mua được tùy ý mua các số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99. Nếu số đã mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì thắng bạc (trúng đề). Có người thì Nguyễn Đức H triết khẩu phần trăm hoa hồng, có người không. Tỷ lệ thắng là đánh 1 trúng được gấp 70 lần (Ví dụ: Đánh 1.000 đồng trúng được số tiền 70.000 đồng), nếu thua thì mất số tiền đã bỏ ra mua số đề. Đối với số lô: Người mua được tùy ý mua các số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99. Nếu số đã mua trùng với hai số cuối của một trong tất cả các giải của kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì thắng bạc (trúng lô). Nguyễn Đức H bán cho người mua với giá từ 22.500 đồng/1 điểm lô đến 23.000 đồng/1 điểm lô, tỷ lệ thắng là 1 điểm trúng được số tiền 80.000 đồng; thua thì mất số tiền đã bỏ ra mua số lô. Đối với lô xiên ba: Người mua được tùy ý mua các bộ số (ví dụ: 00 – 11-45, 13-99-98...) giá 10.000 đồng/1 điểm lô xiên. Nếu bộ số đã mua đều trùng với ba cặp số cuối của ba giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì thắng bạc (trúng lô xiên), tỷ lệ thắng là 1 điểm trúng được số tiền 400.000 đồng; thua thì mất số tiền đã bỏ ra mua số lô xiên.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã làm rõ ngày 21/3/2024 Nguyễn Đức H thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho những người sau:

  1. Nguyễn Tiến Q sinh năm 1984 trú tại khu F, thị trấn T, huyện T và Nguyễn Cao C1 sinh năm 1986, trú tại khu B, xã M, huyện T: Vào hồi 17 giờ 42 phút ngày 21/3/2024, Q sử dụng điện thoại di động OPPO F1s không gắn sim của mình đăng nhập vào tài khoản T1 có tên “Huong T2” nhắn tin đến tài khoản Telegram của Nguyễn Đức H sinh năm 1991, trú tại khu F, thị trấn T, huyện T để mua các số lô 47,74 mỗi số 05 điểm với tổng số tiền là 225.000đ. Đến 17 giờ 44 phút cùng cách thức như trên Q mua của H các số lô 04,40 mỗi số 5 điểm với tổng số tiền là 225.000 đồng. Đến 17 giờ 52 phút, khi đang cùng C1 ngồi uống bia tại quán nhà Lý Thị Thúy N sinh năm 1992 thuộc khu A, xã Đ, huyện T thì C1 nhờ Q mua hộ các số lô 01,34,58,72,86,98 mỗi số 10 điểm, Q mua số lô hộ C1 với giá 22.500 đồng/1 điểm lô. Sau đó Q sử dụng tài khoản Telegram nhắn tin cho H để mua hộ các số lô trên với tổng số tiền là 1.350.000 đồng. Số tiền này C1 đã trả cho Q. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày thì số lô Q mua hộ C1 trúng lô 01=10 điểm, lô 98=10 điểm được tổng số tiền là 1.600.000đ. Số tiền này H chưa trả cho Q. Như vậy tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Cao C1Nguyễn Đức H ngày 21/3/2024 khi đã tính toán thắng thua là 3.400.000đồng.
  2. Đặng Quang H4 sinh năm 1973 trú tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ: Khoảng 16 giờ ngày 21/3/2024 khi H đang ở quán bán nước của mình thì H4 đến gặp và hỏi mua các số đề gồm: Dây 01 (gồm các số 01, 10, 06, 60, 15, 51, 56, 65). Dây 11 (gồm các số 11, 66, 16, 61). Dây 12 (gồm các số 12, 21, 17, 71, 26, 62, 67, 76). Dây 32 (gồm các số 23, 32, 28, 82, 37, 73, 78, 87) mỗi số 5000đ. Các số đề 17. 71, 67, 76 mỗi số 15.000đ, H đồng ý và ghi các số đề này vào mục ghi chú trên điện thoại di động của mình. Tổng số tiền H bán số đề cho H4 là 200.000₫, H triết khấu cho H4 20%=40.000đ, H4 đã trả cho H số tiền 160.000đ. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền B, H4 trúng số đề 66=5000đ được 350.000₫, số tiền này H chưa trả cho H4. Như vậy tổng số tiền đánh bạc giữa H và H4 sau khi tính toán thắng thua là 550.000 đồng.
  3. Đỗ Thanh H3 sinh năm 1995 trú tại khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 21/3/2024, H3 sử dụng điện thoại di động Iphone 7, không gắn sim của mình đăng nhập vào tài khoản zalo “Đỗ Thanh H3” của H3 nhắn đến tài khoản zalo của H là “Hanh” hỏi mua các số lô 34, 43, 18, 82 mỗi số 5 điểm, lô xiên ba 34-18-91 là 5 điểm, H đồng ý, H bán cho H3 23.000đ/1 điểm lô, 10.000đ/ 01 điểm lô xiên. Tổng số tiền H bán số lô cho H3 là 510.000đồng, số tiền này H3 chưa trả cho H. Sau khi có kết quả xổ số kiết thiết miền B mở thường cùng ngày, H3 trúng số lô 43 và 18 tổng là 10 điểm lô được số tiền là 800.000đ, số tiền này H chưa trả cho H3. Như vậy tổng số tiền đánh bạc giữa H và H3 sau khi tính toán thắng thua là 1.310.000 đồng.
  4. Bùi Duy C sinh năm 1991 trú tại khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ: Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 21/3/2024, C sử dụng điện thoại di động Iphone 8, gắn sim số 0988485591 của mình đăng nhập vào tài khoản messenger "Mura Đầu Mùa” của C nhắn đến tài khoản messenger của H là “Bống Dung” hỏi mua số lô 70 =20 điểm với tổng số tiền là 460.000đồng, H đồng ý. Sau khi có kết quả xổ số kiết thiết miền B mở thưởng cùng ngày, Bùi Duy C không trúng thưởng. Như vậy tổng số tiền đánh bạc giữa H và Bùi Duy C sau khi tính toán thắng thua là 460.000 đồng. Số tiền này Bùi Duy C đã trả cho H.
  5. Đặng Ngọc S sinh năm 1986 trú tại khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ: Hồi 18 giờ 01 phút ngày 21/3/2024, S sử dụng điện thoại Redmi note 11 gắn sim số 0961139190 nhắn tin đến số điện thoại 0904.855.xxx của H hỏi mua các số lô 98, 89 mỗi số 10 điểm với tổng số tiền là 460.000đ, H đồng ý, số tiền này S chưa trả cho H. Sau khi có kết quả xổ số kiết thiết miền B mở thưởng cùng ngày, S trúng số lô 89, 98 mỗi số 10 điểm với tổng số tiền trúng thưởng là 1.600.000đ, số tiền này H chưa trả cho S. Như vậy tổng số tiền đánh bạc giữa H và S sau khi tính toán thắng thua là 2.060.000 đồng.
  6. Khổng Quang T sinh năm 1975 trú tại khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ: Từ khoảng 16 giờ 52 phút đến 18 giờ 05 phút ngày 21/3/2024, T sử dụng điện thoại di động Redmi note 11, gắn sim số 0961139190 của mình đăng nhập vào tài khoản Telegram của T là “T3 29525” gửi đến tài khoản Telegram của H là "H Hanh" 04 tin nhắn hỏi mua số đề: 02, 20 mỗi số 24.000đ; các số để gồm: Dây 36 (gồm các số: 13, 31, 18, 81, 36, 63, 86, 68); Dây 45 (gồm các số: 45, 54, 04, 40. 59, 95, 09, 90); Dây 12 (gồm các số: 12, 21, 17, 71, 76, 67, 26, 62); Dây 53 (gồm các số: 53, 35, 03, 30, 08, 80, 85, 58) mỗi số 10.000đ; Dây 79 (gồm các số: 79, 97, 29, 92, 74, 47, 24, 42); Dây 65 (gồm các số: 65, 56, 06, 60, 15, 51, 01, 10) mỗi số 20.000đ. Số đề: 09, 90, 59, 95, 33, 99, 19, 91, 39, 93, 88, 83, 38 mỗi số 10.000đ. Số đề: 01, 10, 29, 92 mỗi số 20.000đ; Dây 12 (gồm các số: 12, 21, 26, 62, 17, 71, 76, 67); Dây 53 (gồm các số: 53, 35, 03, 30, 08, 80, 58, 85); Dây 13 (gồm các số 13, 31, 18, 81, 63, 36, 68, 86); Dây 45 (gồm các số 45, 54, 59, 95, 04, 40, 09, 90); Dây 23 (gồm các số 23, 32, 28, 82, 78, 87, 37, 73); Dây 14 (gồm các số 14, 41, 19, 91, 64, 46, 69, 96) mỗi số 20.000đ, H đồng ý. Tổng số tiền H bán số đề cho T là 1.858.000đ, H triết khấu cho T 23% hoa hồng = 428.000đ. Số tiền này T và H chưa thanh toán. Sau khi có kết quả xổ số kiết thiết miền B mở thưởng cùng ngày, T không trúng thưởng. Vậy tổng số tiền đánh bạc giữa H và T sau khi tính toán thắng thua là 1.858.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền Nguyễn Đức H đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Đặng Quang H4, Nguyễn Tiến Q, Đỗ Thanh H3, Bùi Duy C, Đặng Ngọc SKhổng Quang T ngày 21/03/2024 khi chưa tính toán thắng thua là 5.288.000 đồng; khi đã tính toán thắng thua là 9.638.000 đồng.

Kiểm tra điện thoại của Nguyễn Đức H, Nguyễn Tiến Q, Đỗ Thanh H3, Đặng Ngọc S đều phát hiện các tin nhắn mua bán số lô, số đề như H đã khai nhận ở trên. Kiểm tra điện thoại của Bùi Duy C không phát hiện tin nhắn mua số lô, C khai nhận sau khi nhắn tin hỏi mua số lô của H thì đã xóa tin nhắn này.

Ngoài bán số lô, số đề ngày 21/3/2024, Nguyễn Đức H tự khai nhận bán số lô, số đề vào ngày 20/03/2024 như sau: tại quán bán nước trà đá và đồ ăn sáng của H thuộc khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, H đã bán số lô, số đề cho một số người không xác định được tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền là 1.650.000đồng. Những người này trực tiếp gặp H để mua số lô, số đề và đã trả tiền cho H, H không viết cáp đề, cáp lô nếu trúng thưởng thì sẽ đến quán của H để lấy tiền. H sử dụng điện thoại di động Iphone X, gắn sim số 0904.855.xxx của mình lưu tên người mua và các số lô, số đề đã bán vào phần ghi chú sau đó đăng nhập vào tài khoản zalo của H là “Hanh” nhắn tin đến tài khoản zalo có tên “Lan Điệp” để chuyển các số lô, số đề đã bán cho Đoàn Thị B. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B1 mở thưởng cùng ngày, không có ai trúng thưởng, H đã xóa các tin nhắn này và các số đã ghi chú trong điện thoại nên không nhớ tên người mua số lô, số đề và cá số lô, số đề đã bán.

Sau khi bán các số lô, số đề ngày 20/3/2024 và ngày 21/3/2024 thì H đã sử dụng tài khoản zalo của H là “Hanh” nhắn tin chuyển các số lô, số đề đã bán đến tài khoản zalo của Đoàn Thị B là “Lan Điệp”, B nhắn tin lại cho H bằng các số tự nhiên thể hiện đã nhận bảng. Cơ quan CSĐT đã tiến hành triệu tập, làm việc với Đoàn Thị B. Quá trình làm việc, Đoàn Thị B trình bày, B không nhận bảng số lô, số đề của H, B không sử dụng tài khoản Zalo “Lan Điệp”, tài khoản zalo của B là “Đoàn Thị B” đăng ký bằng số điện thoại 0359.871.xxx. Cơ quan CSĐT đã tiến hành kiểm tra điện thoại S1 A53 gắn sim số 0359871687 của Đoàn Thị B, trong ứng dụng zalo không có tài khoản nào tên “Lan Điệp”, trong danh bạ, tin nhắn văn bản, ứng dụng messenger, cuộc gọi đi, đến không có thông tin liên quan đến vụ việc. Kiểm tra điện thoại của Nguyễn Đức H chỉ có tài khoản zalo tên “Lan Điệp” ngoài ra không phát hiện số điện thoại đăng ký tài khoản zalo “Lan Điệp” trong danh bạ điện thoại của H. Đối chất giữa Nguyễn Đức HĐoàn Thị B nhưng H và B vẫn không thay đổi lời khai, giữ nguyên quan điểm của mình.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Cao C1, Đặng Quang H4, Đỗ Thanh H3, Bùi Duy C, Đặng Ngọc S, Không Quang T đều khai nhận toàn bộ hành vi mua số lô, số đề của bản thân vào ngày 21/3/2024, phù hợp với biên bản sự việc, biên bản kiểm tra điện thoại, lời khai của Nguyễn Đức H và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra, những người tham gia đánh bạc đã tự nguyên giao nộp:

  • Nguyễn Tiến Q giao nộp thêm 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng);
  • Nguyễn Đức H giao nộp: 6.620.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, số IMEI: 353046090487220, gắn sim số 0904855481, đã qua sử dụng;
  • Đặng Quang H4 giao nộp: 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng);
  • Bùi Duy C giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8, màu đen, số Sê-ri: FFMYQOS2JC6G, gắn sim số 0988485591 đã qua sử dụng;
  • Đỗ Thanh H3 giao nộp 510.000 đồng (Năm trăm mười nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu xám, số IMEI: 353836089696900, không gắn sim, đã qua sử dụng;
  • Đặng Ngọc S giao nộp 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI1: 868441064559708, số IMEI2: 868441064559716, gắn sim số 0961139190, đã qua sử dụng;
  • Khổng Quang T giao nộp 1.858.000 đồng (Một triệu tám trăm năm mươi tám nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu đen, số IMEI1: 866996061155018, số IMEI2: 866996061155000, gắn sim số 0986287324 và 0385392336, đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKSTB ngày 10 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba truy tố các bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Duy C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Duy C phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án. Buộc Nguyễn Đức H thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian chấp hành hình phạt cải thao không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 BLHS.

Bị cáo Nguyễn Đức H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với bị cáo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Duy C 06 (Sáu) tháng đến 09 (C2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: Tiền ngân hàng N1: 11.288.000 đồng (Mười một triệu hai trăm tám mươi tám nghìn đồng).
  • + Tiêu hủy: 05 sim số thuê bao 0904855481; 0988485591; 0961139190; 0986287324 và 0385392336.
  • + Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại OPPO F1S màu vàng – hồng, số mày A1601, số IMEI1: 863897036156979, số IMEI2: 863897036156961; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, số IMEI: 353046090487220; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8, màu đen, số Sê-ri: FFMYQOS2JC6G; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu xám, số IMEI: 353836089696900; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI1: 868441064559708, số IMEI2: 868441064559716; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu đen, số IMEI1: 866996061155018, số IMEI2: 866996061155000.

- Về trách nhiệm dân sự: Không

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận, bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo và những người tham gia tố tụng đều nhất trí và không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án và các tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 21/3/2024 tại quán nước của Nguyễn Đức H thuộc trú tại khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, H đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Tiến Q, Đặng Quang H4, Đỗ Thanh H3, Bùi Duy C, Đặng Ngọc S, Khổng Quang T với tổng số tiền khi chưa tính toán thắng thua là 5.288.000 đồng, khi đã tính toán thắng thua là 9.638.000 đồng. Nguyễn Đức H khai làm thư ký đề và chuyển toàn bộ bảng đề cho Đoàn Thị B, tuy nhiên quá trình điều tra không có cơ sở để chứng minh việc H thỏa thuận để làm thư ký cho B và việc B nhận bảng lô, đề của H. Vì vậy không có căn cứ để xác định là hành vi tổ chức đánh bạc mà H phải chịu trách nhiệm về hành vi “Đánh bạc” với tổng số tiền 9.638.000 đồng.

Ngày 21/3/2024, Bùi Duy C đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô với Nguyễn Đức H số tiền là 460.000 đồng. Mặc dù số tiền đánh bạc của C dưới 5.000.000 đồng nhưng vì C có 01 tiền án về tội Đánh bạc, chưa được xoá án tích. Do vậy, hành vi trên của Bùi Duy C đã cấu thành tội “Đánh bạc”.

Do đó, Nguyễn Đức H, Bùi Duy C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện để thu lời bất chính. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, các bị cáo nhận thức được hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nên các bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Duy C phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:

"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ".

Đối với hành vi đánh bạc ngày 20/3/2024 của Nguyễn Đức H, số tiền dùng để đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và H không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc. Do đó, Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đức H là phù hợp.

Đối với hành vi đánh bạc ngày 21/3/2024 của Nguyễn Tiến Q, Đỗ Thanh H3, Đặng Ngọc S, Khổng Quang T, Đặng Quang H4, Nguyễn Cao C1 số tiền sử dụng để đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Qua xác minh, những người trên đều chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc. Do đó Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Cao C1, Đặng Quang H4, Đỗ Thanh H3, Đặng Ngọc S, Khổng Quang T là phù hợp.

[3] Tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, làm mất ổn định an ninh trật tự địa phương. Vì vậy, đưa các bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Đức H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và ổn định, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng có khung hình phạt tù không quá 03 năm nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ là phù hợp.

Bị cáo H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Bị cáo Bùi Duy C có nhân thân xấu, có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc, đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xoá án tích. Ngày 21/3/2024 bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua các số lô của Nguyễn Đức H số tiền là 460.000 đồng. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Chứng tỏ bị cáo là người không tôn trọng pháp luật, vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Duy C 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù là phù hợp.

[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Duy C không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS:

  • - Đối với số tiền Ngân hàng N1: 11.288.000₫ (Mười một triệu hai trăm tám mươi tám nghìn đồng) là tổng số tiền những người tham gia đánh bạc sử dụng để đánh bạc ngày 20/3/2024 và ngày 21/3/2024 nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với: 01 chiếc điện thoại OPPO F1S, số IMEI1: 863897036156979, số IMEI2: 863897036156961, không gắn sim của Nguyễn Tiến Q; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, số IMEI: 353046090487220, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng của Nguyễn Đức H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8, màu đen, số Sê-ri: FFMYQOS2JC6G, đã qua sử dụng của Bùi Duy C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu xám, số IMEI: 353836089696900, dung lượng bộ nhớ 32Gb, không gắn sim, đã qua sử dụng của Đỗ Thanh H3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI1: 868441064559708, số IMEI2: 868441064559716, đã qua sử dụng của Đặng Ngọc S; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu đen, số IMEI1: 866996061155018, số IMEI2: 866996061155000 đã qua sử dụng của Khổng Quang T. Đây là những chiếc điện thoại các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng để mua bán số lô, số đề nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với các sim số: 0904855481 của Nguyễn Đức H; sim số 0988485591 của Bùi Duy C; sim số 0961139190 của Đặng Ngọc S; sim số 0986287324, và 0385392336 của Khổng Quang T không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

[7] Đối với Đoàn Thị B: Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã kiểm tra điện thoại mà B sử dụng, không phát hiện thông tin nào liên quan đến vụ án. Tiến hành đối chất giữa B và Nguyễn Đức H nhưng B không thừa nhận quen biết H, không thừa nhận hành vi đánh bạc nhận bảng số lô, số đề của H ngày 20/3/2024 và ngày 21/3/2024 như H đã khai báo. Ngoài lời khai của Nguyễn Đức H thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Đoàn Thị B nhận bảng số lô, số đề của H. Do vậy, không có đủ căn cứ để xử lý đối với Đoàn Thị B.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Duy C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức H.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Duy C.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Duy C phạm tội “Đánh bạc”.

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo H cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với bị cáo.

    Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

    - Xử phạt bị cáo Bùi Duy C 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS:
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước tiền ngân hàng N1: 11.288.000 đồng (Mười một triệu hai trăm tám mươi tám nghìn đồng).
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại OPPO F1S, số IMEI1: 863897036156979, số IMEI2: 863897036156961, không gắn sim của Nguyễn Tiến Q; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, số IMEI: 353046090487220, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng của Nguyễn Đức H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8, màu đen, số Sê-ri: FFMYQOS2JC6G, đã qua sử dụng của Bùi Duy C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu xám, số IMEI: 353836089696900, dung lượng bộ nhớ 32Gb, không gắn sim, đã qua sử dụng của Đỗ Thanh H3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI1: 868441064559708, số IMEI2: 868441064559716, đã qua sử dụng của Đặng Ngọc S; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu đen, số IMEI1: 866996061155018, số IMEI2: 866996061155000 đã qua sử dụng của Khổng Quang T. Đây là những chiếc điện thoại các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng để mua bán số lô, số đề nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
    • - Tịch thu tiêu huỷ các sim: sim số 0904855481 của Nguyễn Đức H; sim số 0988485591 của Bùi Duy C; sim số 0961139190 của Đặng Ngọc S; sim số 0986287324, và 0385392336 của Khổng Quang T.

    (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT-Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba)

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Đức H, Bùi Duy C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Thanh Ba;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Ba;
  • - Công an huyện Thanh Ba;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Trần Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger