|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HS-ST
Ngày: 11-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Lâm Sơn
Ông Đặng Văn Trị
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1- Nguyễn Quốc H, sinh ngày 19/6/2006 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1976 và bà Hồ Thị H1, sinh năm 1974; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/4/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H: Ông Lâm Thanh T – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
2- Phan Trọng H2, sinh ngày 14/01/2008 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Trọng T1, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Thanh K, sinh năm 1981; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân:
- Ngày 27/02/2024, bị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt cảnh cáo.
- Ngày 04/4/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 09 tháng.
Hiện bị cáo đang thi hành biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Bình Định. Bị cáo có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Trọng H2: Bà Nguyễn Thị Hồng T2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
3- Nguyễn Văn T3, sinh ngày 29/6/2005 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị C, sinh năm 1976; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/4/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4- Phan Thị Y, sinh ngày 10/2/1972 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan B (đã chết) và Nguyễn Thị Minh N (đã chết); chồng Đặng Bình D, sinh năm: 1963, con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/4/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
- Ông Phạm Quốc V, sinh năm 1981
- Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1963
Đồng trú tại: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1987
Trú tại: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
- Bà Võ Thị M, sinh năm 1980
Trú tại: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 12/2023, Nguyễn Quốc H, sinh ngày 19/6/2006 ở thôn A, xã B, huyện T bắt trộm 01 con gà của ba mẹ (không rõ đặc điểm, trọng lượng) rồi đem đến chợ M1, xã T cho bà Phan Thị Y, sinh năm 1972 ở thôn M, xã T, huyện T (là người buôn bán gà tại chợ). Sau khi bán gà cho bà Y, H hỏi xin bà Y số điện thoại để lần sau có gà sẽ liên lạc bán.
Trong khoảng tháng 01/2024, H đến nhà cậu ruột Hồ Văn H4, sinh năm 1965 và bà ngoại Nguyễn Thị C1, sinh năm 1945 ở thôn A, xã B, huyện T chơi và lén lút 02 lần bắt trộm gà của ông H4, bà C1 (không xác định được số lượng và đặc điểm gà) rồi rủ Phan Trọng H2, sinh ngày 14/01/2008 ở thôn A, xã B và Nguyễn Văn T3, sinh ngày 29/6/2005 ở thôn K, xã B đem đi bán. H liên lạc với bà Y thì bà Y đồng ý mua và chỉ đường cho H đến nhà mình. T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WAVE, biển số 77H7-2645 chở H, H2 đem gà đến nhà bán cho bà Y. Số tiền bán gà được, cả ba sử dụng để chơi game, ăn uống.
Để có tiền tiêu xài và chơi game, H tiếp tục rủ H2, T3 tìm nhà dân có gà để bắt trộm, H2, T3 đồng ý. Vào đêm ngày 24/01/2024, H2 điều khiển xe mô tô 77H7-2645 chở H, T3 đi đến xã T và xã T, huyện T thực hiện tổng cộng 04 vụ bắt trộm 19 con gà của các nhà dân rồi đem đến nhà bán cho bà Y. Sau các lần mua trước, bà Y biết số gà trên là do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua. Cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ 30', H2 điều khiển xe mô tô 77H7-2645 chở H, T3 đi dạo tìm gà để bắt trộm. Khi đi ngang qua nhà anh Phạm Quốc V, sinh năm 1981 ở thôn A, xã T thấy có gà ngủ bên trong khu vực chuồng bò trước sân nhà, H2 dừng xe mô tô cách nhà ông V khoảng 4-5m rồi cả ba cùng trèo qua hàng rào lưới B40 vào trong khu vực chuồng bò. H bắt được 02 con gà rồi đưa cho H2 cầm 01 con, Tứ bắt được 02 con gà. Sau đó, cả ba trèo qua hàng rào lưới B40 ra ngoài, H điều khiển xe mô tô chở H2, T3 đem gà đến nhà bà Y bán. Bà Y mua 04 con gà trên (gồm 01 con gà mái đẻ, 02 con gà trống tơ, 01 con gà trống cựa) có tổng trọng lượng là 8,5kg với giá 810.000 đồng.
- Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ, sau khi rời khỏi nhà bà Y, H2 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H, T3 đi dạo tìm gà để bắt trộm. Khi đi ngang qua nhà bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1963 ở thôn A, xã T, thấy cổng ngõ không khóa, trong chuồng bò phía trước sân có gà đang ngủ nên dừng xe lại. H2 đứng ngoài canh xe, còn H và T3 đi vào trong chuồng bò để bắt trộm gà. H bắt được 02 con gà, T3 bắt được 01 con gà. Lúc này bà N1 nghe tiếng gà la nên chạy ra hô hoán, H, T3 chạy ra ngoài rồi H2 điều khiển xe mô tô chở H, T3 đem gà đến nhà bà Y bán. Bà Y mua 03 con gà trên (gồm 02 con gà mái đẻ, 01 con gà trống cựa) có tổng trọng lượng 6,3kg với giá 570.000 đồng.
- Vụ thứ ba: Khoảng 19 giờ 30 phút, sau khi rời khỏi nhà bà Y, H, H2, T3 tiếp tục đi dạo đến nhà anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1987 ở thôn M, xã T, thấy có gà ngủ rải rác ở sân sau nhà. H2 dừng xe lại ở sát hàng rào lưới B40 rồi đứng ngoài canh xe, H, Tứ trèo qua hàng rào lưới B40 đột nhập vào khu vực sân sau nhà ông H3. H, T3 mỗi người bắt được 04 con gà rồi đi đến hàng rào lưới B40 đưa ra cho H2 cầm. Sau đó, H, Tứ trèo ra ngoài rồi cả ba chở gà đến bán cho bà Y. Bà Y mua 08 con gà trên (gồm 01 con gà trống tơ, 01 con gà trống cựa, 06 con gà mái đẻ) có tổng trọng lượng 14,8kg với giá 1.300.000 đồng.
- Vụ thứ tư: Khoảng 20 giờ 30 phút, sau khi rời khỏi nhà bà Y, H2 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H, T3 đi dạo đến nhà chị Võ Thị M, sinh năm 1980 ở thôn M, xã T, thấy phía sau nhà bà M giáp đồng ruộng không có tường rào, gà ngủ rải rác ở sân sau nhà. H2 dừng xe lại sát lề đường rồi đứng ngoài canh xe, H, Tứ băng qua đồng ruộng đi vào khu vực sân sau nhà bà M bắt được 04 con gà. Sau đó, cả ba mang gà đến nhà bán cho bà Y. Khi bà Y đang cân 04 con gà trên (gồm 02 con gà mái đẻ, 02 con gà trống tơ) có tổng trọng lượng 8,2kg và tính tiền thì bị Công an xã T phát hiện quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật gồm tổng cộng 19 con gà và số tiền 2.680.000 đồng.
Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận tổng giá trị 19 con gà bị chiếm đoạt có giá trị là 3.688.000 đồng.
Vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ và xử lý:
- Số tiền 2.680.000 đồng. Đây là số tiền giao dịch mua bán gà có được. Hiện đang được niêm phong, gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện T.
- 19 con gà, có đặc điểm:
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu vàng, chân vàng, trọng lượng 2,2kg.
- + 01 con gà trống tơ, lông màu vàng, chân vàng, trọng lượng 1,6kg.
- + 01 con gà trống tơ, lông màu đen tía, chân vàng, trọng lượng 2kg.
- + 01 con gà trống cựa, lông màu đen tía, chân vàng, trọng lượng 2,7kg.
- + 01con gà mái đẻ, lông màu bông trắng, chân vàng, trọng lượng 2,1kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu xám, chân vàng, trọng lượng 1,8kg.
- + 01 con gà trống cựa, lông màu đen tía, chân vàng, trọng lượng 2,4kg.
- + 01 con gà trống tơ, lông màu đen tía, chân vàng, trọng lượng 1kg.
- + 01 con gà trống cựa, lông màu đen tía, chân trắng, trọng lượng 2,7kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu trắng bông, chân vàng, trọng lượng 2,2kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu xám, chân vàng, trọng lượng 1,6kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu xám, chân vàng, trọng lượng 2,1kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu xám, chân xanh, trọng lượng 1,9kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu xám, chân xanh, trọng lượng 1,6kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu xám, chân vàng, trọng lượng 1,7kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu đen, chân đen, trọng lượng 1,7kg.
- + 01 con gà mái đẻ, lông màu xám đen, chân vàng, trọng lượng 2,9kg.
- + 01 con gà trống tơ, lông màu đen tía, chân xanh, trọng lượng 1,9kg.
- + 01 con gà trống tơ, lông màu đen tía, chân vàng, trọng lượng 1,7kg.
Đã xử lý trả lại cho các chủ sở hữu Phạm Quốc V, Huỳnh Thị N1, Nguyễn Văn H3, Võ Thị M.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu WAVE, màu sơn xanh, biển số 77H7-2645. Quá trình điều tra xác định được xe mô tô trên thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1972 ở thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. Vào tối ngày 24/01/2024, ông T4 không có nhà, T3 tự ý lấy xe mô tô trên sử dụng và đi trộm cắp tài sản, ông T4 không biết. Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu Nguyễn Văn T4.
Về dân sự: Sau khi nhận lại gà, các bị hại Phạm Quốc V, Huỳnh Thị N1, Nguyễn Văn H3, Võ Thị M không yêu cầu gì về dân sự.
Các bị hại Hồ Văn H4, Nguyễn Thị C1, Nguyễn Văn S1, Hồ Thị H1 không xác định được số lượng, đặc điểm gà bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường và không yêu cầu điều tra, xử lý.
Bản cáo trạng số 35/CT – VKSTS ngày 19/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Phan Thị Y về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3 và Phan Thị Y đã khai nhận có hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Phan Thị Y về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 100; Điều 91 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Quốc H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
+ Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 100, Điều 91 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Trọng H2 từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phan Trọng H2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
+ Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3.
+ Áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo Phan Thị Y từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị miễn xét.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.680.000 đồng là số tiền do các bị cáo đã trộm cắp gà mà có, hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện T ngày 17/6/2024.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H là ông Nguyễn Thanh T5, trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định trình bày:
Thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản” như bản cáo trạng cũng như lời luận tội Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa. Sau khi phạm tội: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu; có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về mặt pháp lý có phần bị hạn chế, sau khi phạm tội: Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Với nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91, 100 của Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo Nguyễn Quốc H được hưởng từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung: Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Quốc H.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Trọng H2 là bà Nguyễn Thị Hồng T2, trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định trình bày:
Thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo Phan Trọng H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” như bản cáo trạng cũng như lời luận tội Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa. Sau khi phạm tội: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu; có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về mặt pháp lý có phần bị hạn chế, sau khi phạm tội: Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Với nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91, 100 của Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo Phan Trọng H2 được hưởng từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phan Trọng H2.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, hứa không tái phạm nữa, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Quốc H, Nguyễn Văn T3, Phan Thị Y tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Để có tiền tiêu xài và chơi game, Nguyễn Quốc H, sinh ngày 19/6/2006 ở thôn A, xã B, huyện T rủ Phan Trọng H2, sinh ngày 14/01/2008 ở thôn A, xã B và Nguyễn Văn T3, sinh ngày 29/6/2005 ở thôn K, xã B đi dạo tìm các nhà dân có gà để bắt trộm bán, H2, T3 đồng ý.
Vào đêm ngày 24/01/2024, H, H2, T3 đi dạo đến xã T và xã T, huyện T, thực hiện 04 lần lén lút bắt trộm tổng cộng 19 con gà có giá trị 3.688.000 đồng, gồm: 04 con gà trị giá 893.000 đồng của anh Phạm Quốc V, sinh năm 1981, ở thôn A, xã T; 03 con gà trị giá 593.000 đồng của bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1963, ở thôn A, xã T; 08 con gà trị giá 1.376.000 đồng của anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1987, ở thôn M, xã T; 04 con gà trị giá 826.000 đồng của bà Võ Thị M, sinh năm 1980, ở thôn M, xã T. Sau mỗi lần bắt trộm được gà, cả ba cùng đem đến nhà bán cho Phan Thị Y, sinh năm 1972 ở thôn M, xã T. Bà Y mặc dù biết rõ số gà trên do H, H2, T3 bắt trộm được mà có nhưng vì ham lời nên vẫn đồng ý tiêu thụ. Đến lần thứ 4 khi bà Y đang cân gà tính tiền cho H, H2, T3 thì bị Công an xã T phát hiện quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật gồm 19 con gà và số tiền 2.680.000 đồng là số tiền mua bán gà của 03 lần trước đó. Giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt có giá trị là 3.688.000 đồng. Hành vi của các bị cáo H, H2, T3 đã vi phạm vào Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và hành vi của bị cáo Y đã vi phạm vào Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Như vậy, VKSND huyện Tây Sơn truy tố các bị cáo H, H2, T3 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và bị cáo Y về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Mục đích của các bị cáo H, H2, T3 là bắt trộm gà để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, do đó các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, có tổng giá trị 3.688.000 đồng. Bị cáo Phan Thị Y biết rõ số gà trên do H, H2, T3 bắt trộm được mà có nhưng vì ham lời nên vẫn đồng ý tiêu thụ. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó:
- Bị cáo Nguyễn Quốc H là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3 cùng đi trộm gà và trực tiếp cùng bị cáo T3 thực hiện hành vi phạm tội bắt trộm gà. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hậu quả do đồng phạm gây ra, đồng phạm tích cực nên phải xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn bị cáo H2, bị cáo T3.
- Bị cáo Phan Trọng H2 được bị cáo H rủ đi trộm gà thì bị cáo Hiệp đồng Ý cùng đi nên bị cáo Hiệp đồng P với vai trò là người thực hành, người giúp sức, bị cáo H2 đứng trông coi xe để H và Tứ bắt trộm gà. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hậu quả do đồng phạm gây ra, nên phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn bị cáo H.
- Bị cáo Nguyễn Văn T3 là người thực hành, người giúp sức trong việc bắt trộm gà. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hậu quả do đồng phạm gây ra, nên phải xử phạt bị cáo mức hình phạt ngang bằng bị cáo H.
- Bị cáo Phan Thị Y mặc dù biết rõ số gà trên do H, H2, T3 bắt trộm được mà có nhưng vì ham lời nên vẫn đồng ý tiêu thụ, bị cáo không có hứa hẹn gì với các bị cáo H, H2, T3, do đó bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[5.1] Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Nguyễn Văn T3, Phan Thị Y có nhân thân tốt.
Bị cáo Phan Trọng H2 có nhân thân xấu.
- Ngày 27/02/2024, bị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt cảnh cáo.
- Ngày 04/4/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 09 tháng.
[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Các bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật phần nào hạn chế, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên HĐXX xem xét các tình tiết này khi lượng hình đối với các bị cáo.
[6] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:
Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, tính chất, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng răn đe các bị cáo. Do đó, HĐXX thống nhất áp dụng Điều 100 và Điều 36 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo H, H2, T3 được cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục. Áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo Phan Thị Y là cũng thỏa đáng, tạo điều kiện để các bị cáo an tâm cải tạo tốt như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo H, H2, T3 không có thu nhập ổn định nên HĐXX quyết định miễn việc khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo H, H2, T3.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.680.000 đồng là số tiền do các bị cáo đã trộm cắp gà mà có, hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện T theo biên bản giao nhận tài sản ngày 17/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Kho bạc Nhà nước T.
[10] Đối với hành vi Nguyễn Quốc H lén lút bắt trộm gà của ông Hồ Văn H4, bà Nguyễn Thị C1. Các bị hại không xác định được số lượng, đặc điểm gà bị mất trộm và không yêu cầu điều tra, xử lý nên không có cơ sở để xử lý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý đối với hành vi trên là có căn cứ.
[11] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3, Phan Thị Y mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
[12] Luận cứ của người bào chữa cho bị cáo H và H2 đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Nguyễn Quốc H và Phan Trọng H2 được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu thập. Đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý là phù hợp, nên được chấp nhận.
[13] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đề nghị quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Phan Thị Y phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, Điều 91, 100 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Quốc H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, 36, Điều 91, 100 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Trọng H2 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phan Trọng H2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, 36 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
* Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 323; điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Phạt tiền bị cáo Phan Thị Y 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 2.680.000 đồng (Hai triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) là số tiền do các bị cáo đã trộm cắp gà mà có (Theo biên bản giao nhận tài sản số 06/2024-BBBG-CSĐTCATS ngày 17/6/2024 giữa Kho bạc Nhà nước T và Công an huyện T).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Trọng H2, Nguyễn Văn T3, Phan Thị Y mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo H, T3, Y có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo H2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ khi nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.
6. Về quyền nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bình Định;
- - VKSND tỉnh Bình Định;
- - VKSND huyện Tây Sơn;
- - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tây Sơn;
- - Cơ quan THAHS Công an huyện Tây Sơn;
- - Chi cục THADS huyện Tây Sơn;
- - Bị cáo; bị hại;
- - Đương sự vụ án;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Thị Minh Trí |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H phạm tội trộm cắp tài sản
