TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/DS-ST.
Ngày: 06/9/2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Minh.
- Bà Lê Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 64/2024/TLST-DS, ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-DS, ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/QĐST-DS, ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T.
Địa chỉ: Số 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc V – Chức vụ: Nhân viên Ngân hàng T – chi nhánh Ninh Thuận (Có mặt).
Địa chỉ: Số 757 Thống Nhất, phường Kinh Dinh, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
(Các văn bản ủy quyền số: 3524, ngày 25/12/2023; Số: 26, ngày 11/4/2024 và số 125, ngày 06/9/2024).
- Bị đơn: Ông Phạm Công H, sinh năm: 1986 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Từ Tâm 1, xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Ngọc V trình bày: Ngân hàng T (Gọi tắt là: Ngân hàng) và ông Phạm Công H đã ký kết “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng”, ngày 24/6/2022; Khoản vay này ông H vay theo dạng mở tài khoản thẻ, hạn mức cấp là 30.000.000đ, lãi suất tại thời điểm cho vay 2,77%/tháng; Thẻ tín dụng này ông H mở thuộc gói thẻ tín dụng JCB Classic. Từ khi được cấp thẻ tín dụng thì ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.522.000đ. Tổng số tiền ông H đã thanh toán cho ngân hàng là 7.200.000₫.
Đến ngày 25/4/2023 thì khoản tín dụng của ông H chuyển qua nợ quá hạn lý do là ông H không thanh toán đúng hạn cho ngân hàng đã vi phạm vào “Điều 23 của điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng ngân hàng”.
Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và đôn đốc ông H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông H vẫn không chịu trả.
Tính đến xét xử là ngày 06/9/2024 ông H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 36.529.507₫ (Trong đó: Tiền nợ gốc là: 25.723.423đ, tiền nợ lãi quá hạn là 10.806.084₫). Trong gói vay tín dụng thẻ thì không có nợ trong hạn.
Nay ngân hàng khởi kiện ông Phạm Công H yêu cầu cụ thể như sau:
- Yêu cầu ông Phạm Công H thanh toán tổng số nợ tính đến ngày 06/9/2024 là: 36.529.507₫ (Trong đó: Tiền nợ gốc là: 25.723.423đ, tiền nợ lãi quá hạn là 10.806.084₫).
- Yêu cầu ông Phạm Công H thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 07/9/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Phạm Công H đã được Tòa án niên yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Công Hiếu phải trả nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Phạm Công H có nơi cư trú tại thôn Từ Tâm 1, xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bị đơn ông Phạm Công H nhưng bị đơn không đến tham gia tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa coi như bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Phạm Công H trả số tiền gốc và lãi đã vay; Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa Ngân hàng và ông Phạm Công H ký kết “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng”, ngày 24/6/2022. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và đã tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận, bảo vệ. Sau khi ký hợp đồng, ông H đã nhận đủ số tiền vay. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông H có nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi đối với số tiền đã rút trong thẻ tuy nhiên ông H không thực hiện nghĩa vụ của mình; Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và đôn đốc nhưng ông H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, khẳng định ông Phạm Công H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, ông Phạm Công H phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
[2.2] Về lãi suất: Các bên thỏa thuận tại thời điểm xác lập Hợp đồng tín dụng về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 và Điều 418 của Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Công H phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/9/2024) tổng cộng là 36.529.507đ là phù hợp với Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Phụ lục tình hình trả nợ đồng thời phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận.
[2.4] Ngân hàng yêu cầu: Ông Phạm Công H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 07/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Xét thấy yêu cầu này của Ngân hàng phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng”, ngày 24/6/2022; Phù hợp với quy định tại Điều 100 của Luật Các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí; Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị đơn ông Phạm Công H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 463, 466, 468 và 418 của Bộ luật dân sự;
- Điều 100 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.
- Buộc ông Phạm Công H phải trả cho Ngân hàng T tổng số tiền là: 36.529.507₫ (Ba mươi sáu triệu năm trăm hai mươi chín nghìn năm trăm lẻ bảy đồng), (Trong đó: Tiền nợ gốc là: 25.723.423đ, tiền nợ lãi quá hạn là 10.806.084đ).
- Kể từ ngày 07/9/2024, ông Phạm Công H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức thỏa thuận trong hợp đồng đối với số tiền chưa thanh toán tương ứng với thời gian chậm thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Ông Phạm Công H phải chịu 1.826.000đ (Một triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn đồng – đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 830.000 đồng (Tám trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004306, ngày 02/5/2024 tại Chi cục thi hành dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt đại diện nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2024). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đăng Cốc |
Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 44/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng - Phạm Công H Hợp đồng tín dụng
