|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 29/8/2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Xuyên
2. Ông Nguyễn Văn Vĩ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Ngân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 478/2024/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QÐST - HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QÐST - HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2001
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện S, Hà Nội
Bị đơn: Anh Đào Văn T, sinh năm 1998
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện S, Hà Nội
Có mặt: Chị H
Vắng mặt: Anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1]. Quan điểm khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đào Văn T lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, S, Hà Nội vào ngày 30/11/2020. Sau khi cưới thì vợ chồng chị ở tại nhà anh Tùng ở thôn C, xã Đ, huyện S, Hà Nội. Quá
trình chung sống thì vợ chồng hòa thuận được thời gian đầu, sau đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do không hợp nhau về mọi mặt của cuộc sống, cứ đụng đến vấn đề gì là vợ chồng lại khắc khẩu, cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được gia đình động viên nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn quá căng thẳng nên chị đã về nhà mẹ đẻ của chị ở thôn T, xã Đ, huyện M, Hà Nội từ tháng 5/2023 cho đến nay, hai bên không có trách nhiệm gì với nhau. Từ khi chị về nhà mẹ đẻ ở, anh T và bố mẹ anh T có liên lạc, đến gặp chị và bố mẹ chị để nói chuyện nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm của vợ chồng chị.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã kéo dài không thể khắc phục được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con: vợ chồng chị có 01 con chung là:
Đào Ngọc M - sinh ngày 31/5/2021
Hiện cháu khỏe mạnh bình thường. Sau khi ly hôn chị xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị và anh T tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện chị làm công nhân tại Công ty S ở Khu công nghiệp Q, M, Hà Nội, thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, công sức chung, nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[2]. Bị đơn là anh Đào Văn T: Tại bản tự khai ngày 24/7/2024 trình bày:
Anh và Nguyễn Thị H lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, Hà Nội. Sau khi cưới thì vợ chồng ở tại thôn C, xã Đ, huyện S, Hà Nội.
Anh chị chung sống bình thường đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H có tính ghen quá mức đối với công việc của anh. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, chị H đã về nhà mẹ đẻ của chị ở từ khoảng tháng 6/2023 cho đến nay. Bản thân anh đã đến gặp chị H để bảo chị H quay về nhưng chị H không về.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, vì vậy anh không đồng ý ly hôn với chị H. Tuy nhiên nếu chị H đồng ý để cho anh nuôi con thì anh sẽ đồng ý ly hôn.
Về con: vợ chồng anh có 01 con chung là:
Đào Ngọc M - sinh ngày 31/5/2021
Hiện cháu khỏe mạnh bình thường. Sau khi ly hôn, anh xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện anh làm tại Công ty CP Đ ở thôn L, xã T, huyện S, Hà Nội, thu nhập bình quân 11.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, công sức chung, nợ: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn anh Đào Văn T, xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, công sức chung, nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành, bị đơn chấp hành không đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Con chung của anh chị còn nhỏ cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ nên giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, không phải giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi anh chị ly hôn do anh chị không có yêu cầu. Về tài sản chung, công sức chung, nợ: không phải giải quyết do đương sự không có yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa; căn cứ việc hỏi tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn T lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, S, Hà Nội vào ngày 30/11/2020. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Anh Đào Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại huyện S, Thành phố Hà Nội, do vậy Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự nhưng anh Đào Văn T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Đào Văn T là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tình cảm vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn:
Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn T có mâu thuẫn từ trước khi Toà án huyện S thụ lý vụ án, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục được, anh chị đã sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay, hai bên không có trách nhiệm gì với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm về nhiều mặt của cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống không có hạnh phúc.
Theo ý kiến của địa phương và đại diện gia đình anh T, chị H cũng xác định anh chị sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay. Xét thấy, quan hệ hôn nhân là vợ chồng phải thương yêu, quan tâm, chăm sóc và có trách nhiệm với nhau. Việc anh chị mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay thể hiện hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc. Anh T không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải thể hiện anh không có thiện chí cải thiện tình cảm vợ chồng. Việc chị H xin ly hôn anh T vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục được là chính đáng, thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị H là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung:
Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn T có 01 con chung là Đào Ngọc M - sinh ngày 31/5/2021. Hiện cháu khỏe mạnh bình thường, anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, anh Đào Văn T và chị Nguyễn Thị H đều khỏe mạnh, có công việc, thu nhập ổn định, gia đình hai bên cũng đều có nhà đất ở, sẵn sàng hỗ trợ anh T, chị H nếu Tòa án giao con chung cho anh T, chị H nuôi con. Tuy nhiên, cháu Đào Ngọc M còn nhỏ (39 tháng tuổi) cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ, vì vậy giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn T đều không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi anh chị ly hôn nên không phải giải quyết.
[4] Về tài sản chung, công sức chung, nợ: Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không phải giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn T có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Khoản 1, 2 Điều 81, Khoản 3 Điều 82 và Khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- - Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
- Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đào Văn T.
- Về con chung: Xác nhận anh chị có 01 con chung là Đào Ngọc M - sinh ngày 31/5/2021. Giao con chung cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên hoặc đến khi có quyết định khác của Tòa án. Không phải giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn do anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Đào Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công sức chung, nợ: Không phải giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số 0072533 ngày 18/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đào Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Bích Nguyệt |
Bản án số 44/2024/HNGĐ - ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
