|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2024 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Ngọc Hà.
- Ông Lê Văn Danh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Loan Em – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:
Ông Võ Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Bảo T, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.(Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Sơn Thanh T1, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc tranh chấp ly hôn ngày 25 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ngô Thị Bảo T trình bày:
Bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 02/12/2019.
Thời gian đầu thì bà và ông Sơn Thanh T1 chung sống với nhau rất hạnh phúc, tuy nhiên về sau bà và ông Sơn Thanh T1 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau, dẫn đến cả hai thường xuyên cãi vã cùng nhau dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay.
Trong quá trình chung sống bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 có 02 con chung tên Sơn Ngọc Bảo C, sinh ngày 08/10/2019 hiện đang sống cùng ông Sơn Thanh T1 và Sơn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 08/01/2022 hiện đang sống cùng bà Ngô Thị Bảo T; Tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay bà Ngô Thị Bảo T yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Bảo T yêu cầu được ly hôn với ông Sơn Thanh T1.
Về con chung: Bà Ngô Thị Bảo T yêu cầu được tiếp tục nuôi các con tên Sơn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 08/01/2022 đến tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu ông Sơn Thanh T1 cấp dưỡng nuôi con chung; Bà đồng ý giao con tên Sơn Ngọc Bảo C, sinh ngày 08/10/2019 cho ông Sơn Thanh T1 nuôi đến tuổi trưởng thành, bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Sơn Thanh T1:
Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự nhưng ông Sơn Thanh T1 không có ý kiến gì đối với việc bà Ngô Thị Bảo T xin ly hôn.
- Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với bị đơn ông Sơn Thanh T1 chưa thực hiện và chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải; ông Sơn Thanh T1 đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông T1 đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Ngô Thị Bảo T cho bà Ngô Thị Bảo T được ly hôn với ông Sơn Thanh T1; Về con chung tiếp tục giao con chung tên Sơn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 08/01/2022 cho bà Ngô Thị Bảo T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; Tiếp tục giao
con chung tên Sơn Ngọc Bảo C, sinh ngày 08/10/2019 cho ông Sơn Thanh T1 nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi con bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết; Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 tự nguyện đăng ký kết hôn và đã được UBND phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 82/2015 ngày 01/9/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Thạch Thị Thu T3 và ông Sơn Thanh T1 là hôn nhân hợp pháp.
[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị Bảo T, Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2023 thì bà T và ông T1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng thường hay cãi vả với nhau dẫn đến vợ chồng sống không có hạnh phúc bà T và ông T1 đã ly thân cùng nhau từ năm 2023 cho đến nay nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 trong quá trình chung sống ông bà đã phát sinh nhiều mâu thuẫn bà T ông T1 trong cuộc sống vợ chồng không dung hoà được từ đó dẫn đến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn hiện nay bà T và ông T1 không còn chung sống cùng nhau, ông bà đã sống ly thân cùng nhau từ năm 2023 đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 đã phát sinh mâu thuẫn, ông bà đã sống ly thân đã lâu, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Vì vậy, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Bảo T bà T được ly hôn với ông Sơn Thanh T1.
[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 có 02 người con chung tên Sơn Ngọc Bảo C, sinh ngày 08/10/2019 hiện đang sống cùng ông Sơn Thanh T1 và Sơn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 08/01/2022 hiện nay đang sống cùng với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Sơn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 08/01/2022 đến đủ 18 tuổi; Bà T đòng ý tiếp tục giao con chung tên Sơn Ngọc Bảo C, sinh ngày 08/10/2019 cho ông T1 nuôi đến đủ 18 tuổi. Xét thấy, con chung Sơn Ngọc Bảo C, sinh ngày 08/10/2019 hiện đang sống cùng ông Sơn Thanh T1 và Sơn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 08/01/2022 hiện nay đang sống cùng với bà T tại đơn xin vắng mặt bà Ngô Thị Bảo T cũng đồng ý tiếp tục giao con tên Sơn Thị Bảo C1 cho ông Sơn Thanh T1 tiếp tục nuôi đến đủ 18 tuổi, đối với em Sơn Ngọc Bảo T2 hiện đang sống cùng bà Ngô Thị Bảo T4 bà T4 yêu cầu được tiếp tục nuôi con đến trưởng thành nhằm để tránh cuộc sống hiện tại của các em Sơn Ngọc Bảo C và Sơn Ngọc Bảo T2 không bị xáo trộn, không làm ảnh hưởng đến tâm lý và ổn định việc học của các em Sơn Ngọc Bảo C và Sơn Ngọc Bảo T2 nên cần tiếp tục giao em Sơn Ngọc Bảo
C cho ông Sơn Thanh T1 tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và tiếp tục giao em Sơn Ngọc Bảo T2 cho bà Ngô Thị Bảo T tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
[4] Về cấp dưỡng: Bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí sơ thẩm áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Ngô Thị Bảo T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm con theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Bảo T được ly hôn với ông Sơn Thanh T1.
- Về con chung: Giao cho bà Ngô Thị Bảo T được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Sơn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 08/01/2022 cho đến khi Sơn Ngọc Bảo T2 đủ 18 tuổi; Giao cho ông Sơn Thanh T1 được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Sơn Ngọc Bảo C, sinh ngày 08/10/2019. Bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ngô Thị Bảo T và ông Sơn Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Bà B Ngô Thị Bảo T phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000849 ngày 25/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, bà B Ngô Thị Bảo T đã nộp xong.
- Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiện |
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Ngô Thị Bảo T yêu cầu ly hôn cùng ông Sơn Thanh T
