|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HS-ST
Ngày 09-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sáu;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Sơn Lâm;
- Ông Ngô Hoàng Bá.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Ngọc– Thư ký tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hoàng- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm: 1995; Nơi sinh: V-Cần Thơ; Nơi thường trú: Ấp L, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ-1968 (sống) và bà Lê Thị T-1973 (sống); A, chị, em ruột: Có 02 (lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2005); Tiền án: Ngày 14/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/02/2022, chưa chấp hành phần bồi thường trách nhiệm dân sự nên chưa xóa án tích; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- - Ông Trần Văn N-1993
- Địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- - Bà Nguyễn Thị Yến L-1995
- Địa chỉ: Ấp V, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ.
- - Bà Võ Thị Thúy V
- Địa chỉ: Ấp P, thị trấn T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
(Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H sử dụng ma túy từ năm 2020 nhưng không thường xuyên. Vào khoảng 13 giờ ngày 07/5/2024, H mua ma túy của một người đàn ông tên D, khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực thành phố L, tỉnh An Giang với giá 200.000 đồng, đem về cất giấu để sử dụng riêng. Sau đó H gọi điện thoại rủ Trần Văn N, Nguyễn Thị Yến L, Võ Thị Thúy V1 cùng đến nhà H để nhậu. Đến khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 07/5/2024 khi thấy lực lượng Công an khám xét H đã lấy gói ma túy đang để trên bàn phía trong nhà ném qua khe sàn bỏ xuống sông để phi tang nhưng bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 đoạn ống nhựa màu đỏ hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể không màu (nghi vấn là ma túy).
Căn cứ vào Kết luận giám định số 124/KL-KTHS, ngày 15/5/2024 của Phòng K, Công an thành phố C, kết luận: tinh thể không màu trong đoạn ống nhựa gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1272 gam.
Tại cáo trạng số 48/CT-VKSVT ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a, c khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm đến 04 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo nộp từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0986 gam được niêm phong số 124/KL-KTHS ngày 15/5/2024 có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong Đặng Thúy H1.
* Về vấn đề khác:
Đối với Trần Văn N, Nguyễn Thị Yến L và Võ Thị Thúy V1 có sử dụng ma túy vào những ngày trước đó nhưng ngày 07/5/2024 đến nhà của H để nhậu không nhằm mục đích sử dụng ma túy, không biết H mua ma túy của ai về cất giấu và không có hùn tiền mua ma túy với H. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể thì N, L và V1 đều dương tính, do không thu giữ được ma túy nên hành vi không cấu thành tội phạm, hiện Công an xã T, thị trấn V và thị trấn T đã ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 01 năm đối với N, L và V1 là phù hợp.
Đối với người tên D bán ma túy cho H do không rõ họ tên địa chỉ nên không tiếp xúc làm việc được, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và qua thẩm tra, đối chất tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 07/5/2024 bị cáo đã trực tiếp mua ma túy có khối lượng 0,1272 gam, loại Methamphetamine, sau đó đem về nhà cất giấu mục đích sử dụng cá nhân, bị công an phát hiện bắt quả tang. Căn cứ vào Kết luận giám định số 124/KL-KTHS, ngày 15/5/2024 của Phòng K, Công an thành phố C, kết luận: tinh thể không màu trong đoạn ống nhựa gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1272 gam. Hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, việc đưa ra truy tố và xét xử bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Xét bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có sức khỏe và khả năng lao động nhưng bị cáo không biết tu dưỡng, rèn luyện bản thân sống có ích cho gia đình và xã hội, mà lại nghiện ma túy, tàng trữ ma túy để sử dụng. Bị cáo thừa biết ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần, là nguyên nhân của các tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật tài sản,...Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, nhằm tạo môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh cho công dân và xã hội. Về nhân thân bị cáo chưa tốt, ngày 25/4/2013 bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi gây thương tích cho người khác (tiền sự đã xóa), ngày 14/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/02/2022, chưa chấp hành phần bồi thường trách nhiệm dân sự nên chưa xóa án tích, nay bị cáo tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng, điều này cho thấy bị cáo xem thường pháp luật, ý thức sữa đổi bản thân là rất kém. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần phạt bị cáo nộp sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng và về vấn đề khác: Theo như nhận định và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí theo quy định.
[10] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm a, c khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/5/2024.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo nộp sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0986 gam được niêm phong số 124/KL-KTHS ngày 15/5/2024 có đóng dấu tròn đỏ của Phòng K Công an thành phố C và chữ ký cán bộ niêm phong Đặng Thúy H1.
(Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số 39/QĐ-VKSVT ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Sáu |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Hạnh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm a, c khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hạnh 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/5/2024. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo nộp sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
