TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày : 23 – 7 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Minh Chánh – Giáo viên.
Ông Nguyễn Ngọc Bờ - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Đặng Trọng N, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1983 tại quận T, thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật giáo Hòa hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn B và bà Nguyễn Thị H; Anh em ruột có 04 người bị cáo là người thứ 4; Vợ Từ Thị Thu T; Con có 02 người lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, học lớp 12 thì nghỉ. Năm 2011 có vợ tên Từ Thị Thu T1 và có 02 con chung; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
- Đại diện hợp pháp của bị hại, gồm:
- Ông Huỳnh Bạch Đằng G, sinh năm 1977; (Có mặt)
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1958; (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; (Vắng mặt)
- Huỳnh Thiên L1, sinh ngày 30/6/2011; (Vắng mặt)
- Huỳnh Tỉnh G1, sinh ngày 30/11/2014. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Đại diện theo pháp luật của Huỳnh Thiên L1, Huỳnh T2 Giác: Ông Huỳnh Bạch Đằng G, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị L: Ông Huỳnh Bạch Đằng G, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần T6. Trụ sở: A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tổng Công ty B1. Trụ sở: Số A, P, quận C, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T6: Ông Trịnh Lê H2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số D H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Đại diện theo ủy quyền của Tổng Công ty B1: Ông Trần Bá H3, sinh năm 1972. Địa chỉ: 1 M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
- Những người làm chứng:
- Bà Huỳnh Thị Ngọc T3, sinh năm 1959; (Có mặt)
- Bà Cao Thị T4, sinh năm 1958; (Vắng mặt)
- Ông Đinh Vũ H4, sinh năm 1974; (Vắng mặt)
- Ông Đặng Văn B, sinh năm 1956; (Có mặt)
- Bà Từ Thị Thu T1, sinh năm 1985. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 11/11/2023, Đặng Trọng N điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-392.34 lưu thông trên quốc lộ I, hướng C - L, khi đến khu vực tổ B, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, do ngủ gật nên không làm chủ tay lái nên đụng vào xe đạp điện do Nguyễn Thị Thu T5 điều khiển cùng chiều phía trước, làm T5 ngã xuống đường và xe ô tô do N điều khiển chạy đến cán qua người làm T5 tử vong do đa chấn thương, mất máu cấp.
- Ông Huỳnh Bạch Đằng G trình bày: Qua vụ việc G yêu cầu phía Công ty T6 và Đặng Trọng N bồi thường chi phí mai táng 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng); tổn thất tinh thần 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng), tiền cấp dưỡng cho 02 con là Huỳnh Thiên L1 sinh ngày 30/6/2011 và Huỳnh T2 Giác sinh ngày 30/11/2014 đến khi 18 tuổi là 180.000.000 đồng. Tổng cộng 400.000.000 đồng, đã nhận 60.000.000 đồng, còn lại 340.000.000₫ (Ba trăm bốn mươi triệu đồng). (Bút lục số:132-134)
- Đại diện theo ủy quyền cho Công ty cổ phần T6 trình bày: Sau khi sự việc xảy ra đại diện Công ty và Đặng Trọng N có đến gia đình bị hại Nguyễn Thị Thu T5 hỗ trợ 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) (trong đó phía Công ty 10.000.000 đồng và N 50.000.000 đồng). Phía Công ty sẽ hỗ trợ cho gia đình bị hại T5 90.000.000₫ (Chín mươi triệu đồng) và số tiền bảo hiểm chi trả là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng). Tổng cộng là 240.000.000 đồng. Hiện đã nộp số tiền 150.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. (Bút lục số: 199-204).
- Đại diện Công ty B2 trình bày: Xe ô tô biển số 51D-392.34 có tham gia bảo hiểm của Công ty B2 còn trong thời hạn bảo hiểm, mức bồi thường tối đa là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng)/người/vụ tai nạn. (Bút lục số: 215)
- Huỳnh Thị Ngọc T3, Đặng Văn B, Từ Thị Thu T1, Cao Thị T4, Đinh Vũ H4 trình bày phù hợp với nội dung của vụ án.
Căn cứ Bản kết luận giám định tử thi số 332/23/KLGĐTT-TTPY ngày 13/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Thị Thu T5 như sau: Đa chấn thương, mất máu cấp. (Bút lục số: 69-73)
Biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 11/11/2023 của Phòng C đường bộ – Công an tỉnh A xác định Đặng Trọng N: 0.000 mg/lít khí thở. (Bút lục số: 03)
Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 11/11/2023 của Bệnh viện Đ xác định Nguyễn Thị Thu T5: Định lượng Ethanol là 0.20g/l. (Bút lục số: 75)
Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 11/11/2023, Biên bản khám phương tiện ngày 16/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, ghi nhận: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn tại dốc cầu dẫn lên cầu C hướng từ C về L, mặt cầu là đường nhựa nhẳn rộng 11 mét ở giữa có vạch sơn liền nét, sơn màu vàng phân chia hai chiều xe chạy; Khu vực xảy ra tai nạn là phần đường C đi L, có độ rộng 5 mét 60. Mốc hiện trường được xác định là biển báo “cầu C km 90+554,8, Quốc lộ I” nằm bên phải hướng C về L. Lấy lề đường bên phải hướng C về L làm lề chuẩn để tiến hành khám nghiệm hiện trường; Xe mô tô tải 51D-392.34: Bên phải biển số xe phía trước có vết trượt xước (3 x 02) cm, tâm cách đất 49 cm, cách cạnh bên phải khung viền là 5 cm; Phía dưới chính giữa biển số xe có vết trượt (2 x 0,4) cm, tâm cách đất 42 cm, vết trượt cách cạnh bên phải khung biển số xe trước là 20 cm; Bên phải cảng phía trước có vết trượt kích thước (7,5 x 0,8) cm, tâm cách đất 47 cm; Mặt dưới cảng trước có vết trượt kích thước (25 x 16) cm; Ốp nhựa đèn tín hiệu bên phải có vết trượt (7 x 3,5) cm; Mặt ngoài bệ lên xuống xe bên phải có vết trượt dài 11cm; Xe đạp điện: Gỗ xe bị móp thụng từ phải qua trái, từ trước ra sau, trên vành gỗ xe có vết mài mòn kim loại, phía bên phải gỗ xe; Chén cổ bị lệch khỏi vị trí ban đầu; Bàn đạp bên trái bị mài mòn nhựa và kim loại; Bên trái chân chống giữa bị mài mòn kim loại; Gác chân sau bên trái bị cong hướng từ dưới lên trên, từ trước ra sau; Đầu gác chân bên trái bị mài mòn kim loại; Bên trái paga xe bị trầy xước mài mòn kim loại kích thước (9 x 1,3) cm, tâm cách đất 50cm; Nắp chụp phản quang phía sau xe bị rớt mất, tâm cách đất 40cm; Chắn bùng sau bị thụng móp hướng từ sau ra trước, tâm cách đất 28cm; Đầu tay phanh bên phải bị cong từ trước ra sau, từ ngoài vào trong; Bàn đạp bên phải bị mài mòn nhựa.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C tạm giữ: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 tên Đặng Trọng N do Sở Giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 09/7/2018 và 01 giấy nộp tiền ngày 12/4/2024 của Ngân hàng N1 A chi nhánh C1, do Trịnh Lê H2 nộp với số tiền 150.000.000 đồng; 01 xe ô tô và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 51D-392.34 do Công ty cổ phần T6 đứng tên chủ sở hữu (đã trao trả cho Trịnh Lê H2 đại diện theo ủy quyền, theo biên bản ngày 18/4/2024); 01 xe đạp điện (đã trao trả cho người đại diện của bị hại là Huỳnh Bạch Đằng G theo biên bản ngày 18/4/2024).
Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS.CP ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung nêu trên, đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng), đã bồi thường cho bị hại được 60.000.000đ trong đó 10.000.000₫ là tiền của Công ty T6, 50.000.000₫ là tiền của bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại ông Huỳnh Bạch Đằng G trình bày: Ông là chồng của nạn nhân Nguyễn Thị Thu T5, cha của vợ ông tên Nguyễn Văn H1, mẹ tên Nguyễn Thị L, ông với bà T5 có hai con chung tên Huỳnh Thiên L1, Huỳnh Tỉnh G1. Ông thống nhất với trình bày của bị cáo, ông yêu cầu bị cáo bồi thường 400.000.000đ, đã nhận 60.000.000đ, còn lại 340.000.000đ. Lý do ông không nhận 150.000.000đ là ông để nhận sau để mọi người cùng biết ông có nhận tiền bồi thường. Ông yêu cầu Tòa án giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện theo ủy quyền của Công ty T6 trình bày: Bị cáo có hợp đồng lao động với Công ty T6, hợp đồng không thời hạn, thời điểm xảy ra vụ án bị cáo là nhân viên của Bách Hóa X thực hiện nhiệm vụ lái xe vận tải hàng hóa. Sau khi xảy ra vụ án Công ty T6 có hỗ trợ 10.000.000đ cho đại diện bị hại. Tiền bảo hiểm đối với người thứ 3 được bồi thường tối đa là 150.000.000đ, Công ty B2 đã chi 45.000.000đ, còn lại 105.000.000₫ nhưng Công ty T6 đã tạm ứng của Công ty mình phần 105.000.000đ còn lại để bồi thường cho bị hại nhưng bị hại không nhận nên đã giao cho cơ quan điều tra số tiền 150.000.000đ, đây là tiền bảo hiểm. Việc bồi thường giữa Công ty B2 và Công ty T6 sẽ tự giải quyết với nhau.
Đại diện theo ủy quyền của Công ty B2: Theo quy định thì bồi thường tối đa trong trường hợp này là 150.000.000đ, đã tạm ứng 45.000.000đ, còn lại 105.000.000đ sẽ xem xét bồi thường sau. Tuy nhiên, Công ty T6 đã tạm ứng bồi thường 150.000.000đ cho bị hại thì giữa Công ty T6 và Công ty B2 sẽ tự giải quyết sau.
Những người làm chứng Huỳnh Thị Ngọc T3, Đặng Văn B, Từ Thị Thu T1 trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt: Bị cáo Đặng Trọng Nhân từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...] hạng B2 tên Đặng Trọng N; Tiếp tục tạm giữ số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) để đảm bảo thi hành án, số tiền đã nộp vào tài khoản số 3949.0.1054727.00000 theo ủy nhiệm chi số 07 ngày 18/7/2024 (kèm Biên lai thu tiền số 002997 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú).
- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại 340.000.000₫ (Ba trăm bốn mươi triệu đồng).
Bị cáo Đặng Trọng N tranh luận: Thống nhất với truy tố của Cáo trạng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, theo Cáo trạng thì bị hại có nồng độ cồn trong máu nên bị hại cũng có lỗi, lỗi của bị hại có trước, lỗi của bị cáo là sau nên đây là lỗi hỗn hợp. Do bị cáo ngủ gật nên gây tai nạn chứ không cố ý gây thiệt hại cho bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Viện kiểm sát đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo; bị cáo phạm tội vô ý nên Viện kiểm sát mới truy tố bị cáo tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; bị hại có nồng độ cồn không ảnh hưởng đến hành vi vi phạm của bị cáo.
Ông Huỳnh Bạch Đằng G, đại diện Công ty T6, Công ty B2 không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thống nhất với Cáo trạng truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, điều kiện phạm tội của bị cáo để xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đã gây đau thương mất mác cho gia đình bị hại, bị cáo thành thật xin lỗi bị hại, gia đình bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều phù hợp.
- Tại phiên tòa những người làm chứng Cao Thị T4, Đinh Vũ H4 vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đặng Trọng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do phạm tội gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Đặng Trọng N đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 51D – 392.34 trong trạng thái ngủ gật không làm chủ tay lái đụng vào xe đạp điện do Nguyễn Thị Thu T5 điều khiển chạy cùng chiều. Hậu quả làm T5 tử vong do đa chấn thương, mất máu cấp.
Thấy rằng, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được việc điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ trong trạng thái ngủ gật là vi phạm pháp luật và có thể gây nguy hiểm cho người khác nhưng vì bị cáo tin rằng bị cáo sẽ không ngủ gật khi buồn ngủ nhưng đã ngủ gật, thiếu quan sát dẫn đến gây tai nạn cho bị hại, hậu quả bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
“Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: Tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Làm chết người;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. ........;
3.........;
4.........;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
[6] Các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, xét thấy bị cáo có 02 con nhỏ sinh năm 2012 và 2020 cần có sự nuôi dưỡng và chăm sóc; bị cáo là lao động chính, gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; sau khi gây tai nạn bị cáo đã chủ động đến cơ quan có thẩm quyền đầu thú; có ông bà ngoại là người có công; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, HĐXX áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[5] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hiện nay tình trạng tai nạn giao thông trên Quốc lộ I diễn ra rất nhiều, đã gây ra nhiều đau thương mất mát cho bị hại cũng như gia đình bị hại. Nhiều trường hợp nguyên nhân dẫn đến việc gây tại nạn khi tham gia giao thông đường bộ là do người điều khiển xe ngủ gật không làm chủ được tay lái. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, HĐXX xử phạt bị cáo 02 năm tù. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn về án treo thì HĐXX thấy rằng, bị cáo bị xử phạt dưới 03 năm tù, có nhân thân tốt, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, HĐXX thấy rằng, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định nên HĐXX cho bị cáo Đặng Trọng N được hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử thấy rằng, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng, do không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 tên Đặng Trọng N; tiếp tục tạm giữ số tiền 150.000.000₫ để đảm bảo thi hành án.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho những người thừa kế của bị hại số tiền 340.000.000₫ (Ba trăm bốn mươi triệu đồng).
[10] Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Trọng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí:
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 2; Điều 5 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Trọng N 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày 23/7/2024.
Giao bị cáo Đặng Trọng N cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đặng Trọng N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.thời gian thử thách, bị cáo Đặng Trọng N cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đặng Trọng N phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Đặng Trọng N và đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo Đặng Trọng N có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Huỳnh Bạch Đằng G, ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị L, Huỳnh Thiên L1 và Huỳnh T2 Giác 340.000.000₫ (Ba trăm bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...] hạng B2 tên Đặng Trọng N; Tiếp tục tạm giữ số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) để đảm bảo thi hành án, số tiền đã nộp vào tài khoản số 3949.0.1054727.00000 theo ủy nhiệm chi số 07 ngày 18/7/2024 (kèm Biên lai thu tiền số 002997 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú)
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện C và Chi cục Thị hành án dân sự huyện C.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a, f, g khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Trọng N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Hoà |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
