Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HSST

Ngày 19/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuý Hoà

Ông Nguyễn Việt Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 19/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 31/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Vũ Mạnh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 27 tháng 01 năm 1975 tại V, Hưng Yên.

Nơi thường trú: số nhà 54, phố Hàng Hòm, phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Nơi ở: Số nhà 54A, ngõ 469, phố Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12

Bố đẻ: Vũ Văn H, sinh năm 1952, Mẹ đẻ: Dương Thị D, sinh năm 1955 hiện ở phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Vợ: Phạm Quỳnh H1, sinh năm 1976 (đã ly hôn).

Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2001.

Gia đình bị cáo có 4 anh, em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.

Tiền án: 01 tiền án:

Tại bản án số 411/2016/HSPT ngày 22/7/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt Vũ Mạnh T 11 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 3 năm tù về tội Tàng trữ tiền giả, tổng hợp hình phạt chung cho 2 tội là 14 năm 6 tháng tù

Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 25/12/2023, chuyển tạm giam ngày 28/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 22 giờ 45 phút ngày 25/12/2023, tại đoạn đường Q thuộc khu S, thị trấn C, huyện C, đội CSĐT tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an thị trấn C, huyện C đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn vi phạm ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, người đàn ông khai nhận tên là Vũ Mạnh T – sinh năm 1975, nơi thường trú: số nhà E, phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội, nơi ở: Số nhà E, ngõ D, phố M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tại phía bên trong quần lót của T đang mặc có 01 túi vải màu đỏ, mở bên trong túi vải có 01 gói giấy hai mặt màu trắng, bên trong gói giấy có 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận đây là ma tuý “đá” (methamphetamine), T tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Handy màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 036.2676.375, 01 ví giả da màu đen, 01 căn cước công dân mang tên Vũ Mạnh T. Cùng ngày, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và đưa về Công an huyện C để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Mạnh T tại Số nhà E, ngõ D, phố M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 264 trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh P giám định đối với chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ thu giữ của T. Tại Kết luận giám định số 1651/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là 9,805 gam.

*Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ”.

Hoàn trả lại 7,581 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã có công văn đề nghị Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Phú Thọ xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Vũ Mạnh T. Tại phiếu kết quả xác định tình tạng sử dụng ma túy ngày 26/12/2023 của Trung tâm y tế huyện C xác định Vũ Mạnh T dương tính với MET: Methamphetamine (ma túy đá) và AMP: Amphetamine (ma túy tổng hợp).

Quá trình điều tra đã xác định được như sau:

Do bản thân sử dụng ma túy “đá” (methamphetamine) nên tối ngày 24/12/2023, T đi một mình đi đến phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy “đá”. Khi đi đến trước cửa số nhà E, đường K, phường K, quận Đ, T gặp một người đàn ông, qua trao đổi, T biết người đàn ông tên Nguyễn Quang H2, T không biết cụ thể địa chỉ ở đâu và có bán ma túy “đá” (methamphetamine) nên T hỏi mua 7.000.000đ tiền ma túy “đá”, H2 đồng ý bán và đưa cho T 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, viền màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (T hiểu chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy “đá”), T đưa cho H2 7.000.000đ. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà tại Số nhà E, ngõ D, phố M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội để cất giấu sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 21 giờ ngày 25/12/2023, T lấy gói ma túy “đá” mà T mua được của H2 gói vào 01 gói giấy hai mặt màu trắng, đúc vào 01 túi vải màu đỏ và cất giấu trong quần lót rồi thuê taxi (T không biết lái xe là ai và không nhớ biển số xe) đi từ khu vực gần cầu V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội đi đến khu S, thị trấn C, huyện C. Khi T vừa xuống xe thì bị Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, các biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 34/2024/CT-VKS, ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Vũ Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

* Căn cứ vào: Điểm g, o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T từ 07 (Bẩy) năm đến 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 25/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Mạnh T.

* Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong của phòng K - Công an tỉnh P được dán kín, mặt trước bì giấy có ghi “Trả lại 7,581 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Vũ Mạnh T, sinh năm 1975, nơi cư trú: số nhà E, phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội”. Mặt sau bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và các loại chữ ký tại vị trí các mép dán; 01 túi vải màu đỏ; 01 mảnh giấy 2 mặt màu trắng.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 ví giả da màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Mạnh T; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Handy màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 036.2676.375 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng hình sự:

Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 22 giờ 45 phút ngày 25/12/2023, tại đoạn đường Q thuộc khu S, thị trấn C, huyện C, Vũ Mạnh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 9,805 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Mạnh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm:

g) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

o) Tái phạm nguy hiểm

"

Do vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước, góp phần làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

[4] Về tiền án, tiền sự:

Bị cáo có 01 tiền án: Tại bản án số 124/2015/HSST ngày 07/4/2015, Vũ Mạnh T bị Tòa án nhân thành phố Hà Nội 11 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 3 năm tù về tội Tàng trữ tiền giả, tổng hợp hình phạt chung cho 2 tội là 14 năm 6 tháng tù. Tại bản án số 411/2016/HSPT ngày 22/7/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt Vũ Mạnh T 11 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 3 năm tù về tội Tàng trữ tiền giả, tổng hợp hình phạt chung cho 2 tội là 14 năm 6 tháng tù. T chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023, hiện nay, T chưa được xóa án tích.

Bị cáo không có tiền sự.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do lần phạm tội trước T bị kết án về hành vi rất nghiêm trọng, trong khi đó lần phạm tội này bị cáo lại thực hiện hành vi rất nghiêm trọng do cố ý. Do đó lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết là tái phạm nguy hiểm và đây là tình tiết định khung hình phạt theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy lần phạm tội này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo qui định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, của bị cáo, trên cơ sở để phục vụ công tác đấu tranh chống, phòng ngừa chung tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tù với mức đủ để bị cáo tỉnh ngộ, sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo sinh sống cùng gia đình nhưng không có tài sản riêng gì có giá trị, bị cáo làm nghề lao động tự do không ổn định, không xác định được thu nhập. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: - Đối với 01 bì niêm phong của phòng K - Công an tỉnh P được dán kín, mặt trước bì giấy có ghi “Trả lại 7,581 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Vũ Mạnh T, sinh năm 1975, nơi cư trú: số nhà E, phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội”. Mặt sau bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và các loại chữ ký tại vị trí các mép dán; 01 túi vải màu đỏ; 01 mảnh giấy 2 mặt màu trắng cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với: 01 ví giả da màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Mạnh T; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Handy màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 036.2676.375 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[8] Đối với người đàn ông tên H2 đã bán ma túy cho T như T đã khai do T không biết địa chỉ ở đâu nên Cơ quan CSĐT công an huyện C không có cơ sở xác minh, làm rõ được.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào: Điểm g, o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 25/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Mạnh T.

* Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong của phòng K - Công an tỉnh P được dán kín, mặt trước bì giấy có ghi “Trả lại 7,581 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Vũ Mạnh T, sinh năm 1975, nơi cư trú: số nhà E, phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội”. Mặt sau bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và các loại chữ ký tại vị trí các mép dán; 01 túi vải màu đỏ; 01 mảnh giấy 2 mặt màu trắng.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 ví giả da màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Mạnh T; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Handy màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 036.2676.375 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2024).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Vũ Mạnh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Cẩm Khê;
  • -VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • -UBND xã nơi B/c cư trú;
  • -CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê;
  • -THADS huyện Cẩm khê;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu hồ sơ+VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HSST ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger