|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 20/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Long và ông Nguyễn Ngọc Chẩn.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa: Ông Phan Đức Bình Nguyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Hoài V – sinh ngày 12/7/2003 tại Sông C, Phú Yên; Nơi thường trú: L, X, Sông C, Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh D – sinh năm 1983, bà Phan Thị Hồng T – sinh năm 1984; Chưa có vợ con. Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 28/10/2021 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ về hành vi đánh nhau, chưa nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S, có mặt tại phiên toà.
-
Ông Tấn V1 – sinh ngày 24/11/2004 tại Sông C, Phú Yên. Nơi thường trú: Long Hải Đ, X, Sông C, Phú Yên. CCCD số: [...]. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ông Tấn C – sinh năm 1975, bà Vũ Thị M – sinh năm 1979; Chưa có vợ con. Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 06/9/2021 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 250.000đ về hành vi ném gạch, đá vào nhà người khác, đã nộp phạt (08/9/2021).
Ngày 13/9/2021 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 250.000đ về hành vi ném vỏ chai bia vào nhà người khác, đã nộp phạt (08/10/2021).
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
-
Nguyễn Xuân L – sinh ngày 02/01/2000 tại Sông C, Phú Yên. Nơi thường trú: L, X, Sông C, Phú Yên. CCCD số: [...]. Nghề nghiệp: thợ sơn; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn L1 – sinh năm 1960, bà Phạm Thị L2 – sinh năm 1960; Có vợ: Phan Thị Họa M1 và con: Nguyễn Phan Hoài A. Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 06/9/2021 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ về hành vi ném gạch vào nhà người khác, chưa nộp phạt.
Ngày 13/9/2021 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000đ về hành vi ném vỏ chai bia vào nhà người khác, đã nộp phạt (08/10/2021).
Ngày 10/11/2021 bị UBND phường X áp dụng biện pháp giáo dục tại phường trong thời gian 03 tháng, ngày 10/02/2022 chấp hành xong.
Ngày 22/11/2021 bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ về hành vi cất giấu trong người đồ vật, các loại dao thường dùng trong sinh hoạt, lao động nhằm mục đích gây thương tích cho người khác, đã nộp phạt (29/11/2021).
Nhân thân: Từ tháng 8/2023 đến ngày 10/9/2023 L nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý, bị bắt tạm giam từ ngày 15/9/2023. Đến ngày 04/3/2024 bị Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S1 – Bộ C2. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
-
Võ Nguyễn Hoàng L3 – sinh ngày 05/11/2000 tại Sông C, Phú Yên. Nơi thường trú: L, X, Sông C, Phú Yên. CCCD số: [...]. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Viết H – sinh năm 1978, bà Huỳnh Thị H1 – sinh năm 1982; mẹ kế: Nguyễn Thị Thanh T1 - sinh năm 1982; Chưa có vợ con. Tiền án: không.
Nhân thân: Ngày 10/8/2018 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 375.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.
Ngày 11/9/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 12/5/2020.
Ngày 20/6/2020 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
-
Nguyễn Hoàng L4 – sinh ngày 11/8/2005 tại Sông C, Phú Yên. Nơi thường trú: L, X, Sông C, Phú Yên. CCCD số: [...]. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng L5 (chết), bà Nguyễn Thị Tuyết N – sinh năm 1986; Chưa có vợ con. Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 06/9/2021 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 250.000đ về hành vi ném gạch, đá vào nhà người khác, đã nộp phạt (27/01/2022).
Ngày 13/9/2021 bị Công an phường X xử phạt vi phạm hành chính 250.000đ về hành vi ném vỏ chai bia vào nhà người khác, đã nộp phạt (27/01/2022).
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Người bị hại:
- Chị Phan Thị P – sinh năm 2002, nơi ĐKTT: Vũ Chính, Thái Bình, hiện ở địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên; Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Kim Thanh T2 – sinh năm 1982, địa chỉ: P, X, Sông C, Phú Yên; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn L6 – sinh năm 1976, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Nhật D1 – sinh năm 2000, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tấn D2 – sinh năm 1975, địa chỉ: Long H, X, Sông C, Phú Yên; hiện ở: L, X, Sông C, Phú Yên; Vắng mặt.
- Ông Ông Tấn C – sinh năm 1975, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên; Vắng mặt.
- Anh Phan Hữu T3 – sinh năm 1997, địa chỉ: D, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm H2 – sinh năm 1973, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn L1 – sinh năm 1960, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên; Vắng mặt.
- Anh Trần Duy K – sinh năm 2003, địa chỉ: L, X, Sông C, Phú Yên; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Tường V2 – sinh năm 1976, địa chỉ: Đ, H, P, Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoài V, Ông Tấn V1, Nguyễn Xuân L, Võ Nguyễn Hoàng L3 và Nguyễn Hoàng L4 thường tổ chức ăn nhậu tại nhà của Nguyễn Xuân L thuộc khu phố L, phường X, thị xã S. Do không có tiền tiêu xài nên V, V1, L, L3, L4 nhiều lần trộm cắp bia lon của các quán nhậu tại thị xã S để sử dụng và bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Quá trình điều tra xác định V, V1, L, L3, L4 đã thực hiện nhiều lần trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã S, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/11/2021, V1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-300.18 (xe đứng tên ông Ông Tấn C, cha ruột V1) chở V trên đoạn D thuộc khu phố V, phường X, thị xã S thì thấy quán “Vườn Bia” của chị Nguyễn Thị Kim Thanh T2 không có người trông coi nên V1 và V bàn bạc thống nhất vào quán lấy trộm bia để bán lấy tiền tiêu xài. V1 và V lén lút đi vào bên trong quán
lấy 04 thùng bia Tiger C1 (loại thùng 24 lon) rồi chở về nhà của L tại khu phố L, phường X, thị xã S cất giấu (L không biết V1, V trộm cắp bia). Đến sáng ngày 22/11/2021, V1 chở 02 thùng bia T4 trộm cắp được đến quán tạp hóa (không xác định được tên quán) bán 02 thùng bia Tiger trộm cắp được số tiền 450.000 đồng. Sau đó V1 tiếp tục chở 02 thùng bia còn lại đến quán tạp hóa “Sáu Lợi” tại khu phố L, phường X bán 02 thùng cho ông Nguyễn L1 được số tiền 450.000 đồng. Sau đó V1 nói với V là đang cần tiền nên V1 lấy hết số tiền 900.000 đồng tiêu xài.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 21/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: 04 thùng bia, nhãn hiệu T6 (Tiger bạc) tại thời điểm ngày 22/11/2021 có giá trị là 1.485.200 đồng.
- Lần thứ hai: Vào khoảng 01 giờ ngày 26/11/2021, V cùng với L3, L4, L đang chơi tại nhà của L thì V rủ cả nhóm đi lấy trộm bia để uống thì cả nhóm đồng ý. Khi đó L3 lấy xe mô tô biển kiểm soát 78E1-435.61 (xe đứng tên Nguyễn Thị Tường V2) chở V đi trộm bia, còn L4 và L ngồi đợi tại nhà L. L3 chở V đến quán "” tại khu phố V, phường X rồi V lén lút đi vào quán trộm bia, còn L3 đứng cảnh giới ngoài quán. Khoảng 05 phút sau, V lấy trộm 02 thùng bia Heineken S (loại thùng 24 lon) đem ra ngoài rồi cùng L3 chở bia về nhà L, V thông báo cho L4 và L đã trộm cắp bia ở quán “V” rồi V, L3, L4 và L cùng nhau uống hết bia.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 21/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: 02 thùng bia nhãn hiệu Heineken Silver tại thời điểm ngày 26/11/2021 có giá trị là 866.600 đồng.
- Lần thứ ba: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28/11/2021, V, V1, L3, L và L4 đang chơi tại nhà của L thì V rủ cả nhóm đi lấy trộm bia của người khác để uống và bán lấy tiền tiêu xài thì cả nhóm đồng ý. Khi đó, V1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-300.18 chở V, còn L3 thì điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78E1-435.61 chở L4 đi tìm kiếm quán nhậu để trộm bia; L thì đợi tại nhà của L. Khi đến quán “Vườn Bia” thì L4 và L3 đứng ngoài đường cảnh giới, còn V và V1 lén lút đi vào bên trong trộm cắp bia. V lấy 02 thùng bia Heineken S (loại thùng 24 lon), V1 lấy 02 thùng Heineken S (loại thùng 24 lon) rồi cùng chở bia về nhà L cất giấu. Sáng ngày 28/11/2021, V đến nhà L lấy xe mô tô 78E1-435.61 chở 04 thùng bia Heineken Silver trộm cắp được đến quán tạp hóa “Hồ N" tại khu phố L, phường X bán cho Nguyễn Thị Cẩm H2 được số tiền 1.520.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, V cùng V1, L, L4, L3 tập trung tại nhà của L, dùng số tiền đã bán bia trộm cắp mà có cùng nhau ăn nhậu, tiêu xài hết.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 21/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: 04 thùng bia, nhãn hiệu Heineken Silver tại thời điểm ngày 28/11/2021 có giá trị là 1.733.200 đồng.
- Lần thứ tư: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02/12/2021, V cùng với V1, L3, L chơi tại nhà L. Tại đây V và V1 bàn bạc với cả nhóm và rủ nhau đi trộm bia để bán lấy tiền tiêu xài thì cả nhóm thống nhất và cùng nhau đi bộ đến quán “BBQ” gần nhà L để trộm cắp bia thì thấy quán có camera nên cả nhóm đi về lại nhà L. V tiếp tục rủ cả nhóm đến quán “Lắm” của anh Nguyễn Văn L6 tại khu phố L, phường X, thị xã S để
trộm cắp bia thì cả nhóm đồng ý. Khi đó, V1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-300.18 chở L, còn L3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78E1-435.61 chở V đến quán “Lắm”. Tại đây, L và L3 đứng canh gác, còn V1 lấy 01 thùng bia Sài Gòn xanh, V lấy 03 thùng bia Heineken Silver, 01 thùng bia Tiger xanh và 01 thùng bia Bivina (đều là loại thùng 24 lon). Sau khi lấy trộm được 06 thùng bia nêu trên thì chở về nhà của L cất giấu. Đến 19 giờ cùng ngày, V điều khiển xe mô tô 78E-435.61 chở 02 thùng bia Heineken Silver trộm cắp được đến quán “Hồng T5” bán cho Nguyễn Thị Cẩm H2 được số tiền 760.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, V tiếp tục đến nhà L chở thêm 01 thùng bia Heineken Silver, 01 thùng bia Sài Gòn xanh, 01 thùng bia Tiger trộm cắp được bán cho chị H2 được số tiền 890.000 đồng rồi cùng cả nhóm ăn nhậu, tiêu xài hết. Còn 01 thùng bia Bivina trộm cắp được cất giấu tại nhà L không xác định được ai sử dụng hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 21/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: 03 thùng bia nhãn hiệu Heineken Silver; 01 thùng bia Tiger xanh; 01 thùng bia Sài Gòn xanh tại thời điểm ngày 02/12/2021 có tổng giá trị là 1.886.600 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐG ngày 03/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: 01 thùng bia nhãn hiệu Bivina Export tại thời điểm ngày 02/12/2021 có giá trị là 230.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà V, V1, L3, L đã chiếm đoạt được vào ngày 02/12/2021 là 2.116.600 đồng.
- Lần thứ năm: Khoảng 23 giờ ngày 05/12/2021, V1, V gặp Nguyễn Nhật D1 tại Khu đô thị V. V1 hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 78D1-164.44 mà D1 đang điều khiển (xe đứng tên ông Nguyễn Tấn D2, cha ruột D1) để chở V đi dạo thì D1 đồng ý và cho mượn xe. Đến khoảng 01 giờ ngày 06/12/2021, V1 chở V đến trước khu vực quán nhậu “Hoàng P1” của chị Phan Thị P tại khu phố L, phường X, thị xã S rồi V1 rủ V vào quán trộm cắp bia thì V đồng ý. V1 và V lén lút leo rào vào bên trong quán, V1 lấy 01 thùng bia Heineken Silver đã bị mở thùng (bên trong không đủ 24 lon), còn V cũng lấy được 01 thùng bia Heineken Silver đã bị mở thùng (bên trong không đủ 24 lon) đem ra khu vực bên ngoài quán. V1 và V kiểm tra 02 thùng bia trên có tổng cộng 32 lon bia Heniken Silver rồi chở về nhà L để cất giấu nhưng không có ai ở nhà nên tiếp tục chở về nhà của V, trên đường đi thì gặp Phan Hữu T3, do có quen biết nên T3 hỏi xin bia để uống thì V1 đưa cho T3 01 thùng Heniken Silver chứa 24 lon, còn lại 08 lon bia đem về nhà V tại khu phố L, phường X cất giấu (sau đó không xác định được ai đã sử dụng hết). Đến khoảng 03 giờ cùng ngày 06/12/2021 thì V1 và V tiếp tục rủ nhau đến quán “Hoàng P1” lén lút lấy 02 thùng bia Heineken Silver rồi đem về nhà V cất giấu. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày V nói với V1 chở bia đi bán thì V1 có nhờ Trần Duy K đến nhà V để chở 02 thùng bia trộm cắp được đến quán “Hồng T5” bán cho Nguyễn Thị Cẩm H2 được số tiền 760.000 đồng. Sau đó, V, V1, K đi chơi bida và tiêu xài hết.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐG ngày 26/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Tại thời điểm ngày 06/12/2021, 02 thùng bia nhãn hiệu Heniken Silver, còn hạn sử dụng có giá trị là
854.000 đồng; 32 lon bia nhãn hiệu H3 có giá trị là 570.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp vào ngày 06/12/2021 là 1.424.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSSC ngày 13/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố Nguyễn Hoài V, Ông Tấn V1, Nguyễn Xuân L, Võ Nguyễn Hoàng L3 và Nguyễn Hoàng L4 tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và khẳng định Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là đúng tội, không oan.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố Nguyễn Hoài V, Ông Tấn V1, Nguyễn Xuân L, Võ Nguyễn Hoàng L3 và Nguyễn Hoàng L4 phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
- Về hình phạt:
- + Đối với V: áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ 17/01/2024.
- + Đối với V1: áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Đối với L: áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Áp dụng Điều 56 BLHS, đề nghị tổng hợp hình phạt 07 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy của Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 04/3/2024 của TAND thị xã Sông Cầu, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án, thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2023.
- + Đối với L3: áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Đối với L4: áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD-R chứa 03 đoạn Video được trích xuất từ camera tại quán H4.
- Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về phần dân sự: Bị hại Phan Thị P, Nguyễn Thị Kim Thanh T2 đã được bồi thường nên không có yêu cầu gì thêm. Bị hại Nguyễn Văn L6 không yêu cầu bồi thường. Tại phiên toà bị cáo V không yêu cầu các bị cáo khác bồi hoàn. Nên không xem xét.
Đối với Nguyễn L1 là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 78E-435.61 và Ông Tấn C là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 78D1-300.18. Ông L1, ông C không biết việc các bị cáo tự ý lấy xe mô tô làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không xem xét xử lý đối với Nguyễn L1 và Ông Tấn C, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S không tạm giữ các xe mô tô trên.
Đối với Nguyễn Nhật D1 cho Ông Tấn V1, Nguyễn Hoài V mượn xe mô tô biển kiểm soát 78D1-164.44 nhưng không biết V1, V mượn xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không xem xét, xử lý đối với D1. Đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Tấn D2 (cha ruột D1).
Đối với Nguyễn Thị Cẩm H2 nhiều lần mua lại các thùng bia từ các bị cáo, tuy nhiên bà H2 không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét, xử lý.
Đối với ông Nguyễn L1 khai không mua bia do các bị cáo trộm cắp mà có, còn Ông Tấn V1 khai sáng ngày 22/11/2021 có bán 02 thùng bia Tiger cho ông Nguyễn L1 được số tiền 450.000 đồng nhưng không nói nguồn gốc bia do trộm cắp mà có. Do đó, không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với ông Nguyễn L1.
Đối với Phan Hữu T3 có xin Ông Tấn V1, Nguyễn Hoài V 24 lon bia Heniken Silver để sử dụng vào ngày 06/12/2021, tuy nhiên T3 không biết nguồn gốc 24 lon bia trên do V1, V trộm cắp mà có nên không xem xét, xử lý đối với Phan Hữu T3.
Đối với Trần Duy K có giúp Nguyễn Hoài V chở 02 thùng bia Heniken Silver đến quán “Hồng T5” bán cho chị Nguyễn Thị Cẩm H2 được số tiền 760.000 đồng vào ngày 06/12/2021, tuy nhiên K không biết nguồn gốc 02 thùng bia trên do Ông Tấn V1, Nguyễn Hoài V trộm cắp mà có nên không xem xét, xử lý đối với Trần Duy K.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xử phạt ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tuy nhiên việc vắng mặt họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ
án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 22/11/2021, tại quán “V" thuộc khu phố V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Hoài V và Ông Tấn V1 có hành vi trộm cắp 04 thùng bia nhãn hiệu Tiger Crystal của chị Nguyễn Thị Kim Thanh T2 trị giá 1.485.200 đồng. Vào ngày 26/11/2021, cũng tại quán “Vườn Bia”, Nguyễn Hoài V, Võ Nguyễn Hoàng L3, Nguyễn Hoàng L4, Nguyễn Xuân L có hành vi trộm cắp 02 thùng bia nhãn hiệu Heniken Silver của chị T2 trị giá 866.600 đồng. Vào ngày 28/11/2021, cũng tại quán “Vườn Bia” nêu trên, Nguyễn Hoài V, Ông Tấn V1, Võ Nguyễn Hoàng L3, Nguyễn Hoàng L4 và Nguyễn Xuân L có hành vi trộm cắp 04 thùng bia nhãn hiệu Heniken Silver của chị T2 trị giá 1.733.200 đồng. Vào ngày 02/12/2021, tại quán “Lắm” thuộc khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Hoài V, Ông Tấn V1, Võ Nguyễn Hoàng L3 và Nguyễn Xuân L có hành vi trộm cắp 06 thùng bia, trong đó: 03 thùng bia nhãn hiệu Heniken Silver, 01 thùng bia nhãn hiệu Tiger xanh, 01 thùng bia nhãn hiệu Sài Gòn xanh, 01 thùng bia nhãn hiệu Bivina Export của anh Nguyễn Văn L6 có tổng giá trị là 2.116.600 đồng. Vào ngày 06/12/2021, tại quán H4” thuộc khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Hoài V và Ông Tấn V1 có hành vi trộm cắp 32 lon bia nhãn hiệu Heniken Silver và 02 thùng bia nhãn hiệu Heniken Silver của chị Phan Thị P có tổng giá trị là 1.424.000 đồng.
Như vậy, Nguyễn Hoài V liên tục thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tổng giá trị là 7.625.600 đồng, Ông Tấn V1 liên tục thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tổng giá trị là 6.759.000 đồng, Võ Nguyễn Hoàng L3 và Nguyễn Xuân L liên tục thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tổng giá trị là 4.716.400 đồng, Nguyễn Hoàng L4 liên tục thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tổng giá trị là 2.599.800 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất an cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện liên tục nhiều lần trộm cắp. Các bị cáo có đủ khả năng lao động nhưng không lo làm ăn mà thường xuyên tụ tập ăn nhậu, chơi bời đêm khuya, không có tiền tiêu xài thì trộm cắp tài sản người khác.
Trong đó, bị cáo Nguyễn Hoài V là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác thực hiện tội phạm; bị cáo V có 01 tiền sự bị xử phạt hành chính về hành vi đánh
nhau nhưng chưa nộp phạt là thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém nên cần xử lý nghiêm. Bị cáo Nguyễn Xuân L có 03 tiền sự bị xử phạt hành chính, 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường và nhân thân mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo Võ Nguyễn Hoàng L3 có nhân thân 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và 01 lần bị Toà án xử phạt tội trộm cắp tài sản. Nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội.
Đối với bị cáo Ông Tấn V1 và Nguyễn Hoàng L4 tại thời điểm phạm tội mặc dù chưa đủ 18 tuổi, nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần (ngày 06/9/2021 và 13/9/2021), tính đến ngày phạm tội lần này chưa quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3] Xét bị cáo V là người rủ rê, xúi dục bị cáo V1 và L4 phạm tội nên thuộc trường hợp xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo V đã vận động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại P và T2, được bị hại P xin giảm nhẹ hình phạt cho V, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét các bị cáo Ông Tấn V1, Nguyễn Xuân L, Võ Nguyễn Hoàng L3 và Nguyễn Hoàng L4 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo V1, L, L3 và L4 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo V1 và L4 thì phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[2.4] Về hình phạt:
Đối với bị cáo V là bị cáo đầu vụ, khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác, V 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp và có 01 tình tiết tăng nặng, lẽ ra mức hình phạt cao hơn các bị cáo L, L3 nhưng bị cáo V có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, áp dụng mức hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên và không cao hơn các bị cáo L, L3 là phù hợp.
Đối với bị cáo L, L3 chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp, có nhiều tiền sự, nhân thân xấu, nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn đề nghị của Kiểm sát viên mới đảm bảo giáo dục bị cáo.
Đối với bị cáo V1 và L4 tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự quyết định mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định, trong đó tính chất, mức độ thực hiện hành vi của V1 cao hơn L4 nên áp dụng mức hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[2.5] Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD-R chứa 03 đoạn Video được trích xuất từ camera tại quán H4.
[2.6] Về phần dân sự: Bị hại Phan Thị P, Nguyễn Thị Kim Thanh T2 đã được bồi thường và không có yêu cầu gì thêm. Bị hại Nguyễn Văn L6 không yêu cầu bồi thường. Tại phiên toà, bị cáo V không yêu cầu các bị cáo khác bồi hoàn. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.7] Đối với Nguyễn L1 là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 78E-435.61 và Ông Tấn C là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 78D1-300.18. Ông L1, ông C không biết việc các bị cáo tự ý lấy xe mô tô làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không xem xét xử lý.
Đối với Nguyễn Nhật D1 cho Ông Tấn V1, Nguyễn Hoài V mượn xe mô tô biển kiểm soát 78D1-164.44 nhưng không biết V1, V mượn xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không xem xét, xử lý.
Đối với ông Nguyễn L1 khai không mua bia do các bị cáo trộm cắp mà có, còn Ông Tấn V1 khai sáng ngày 22/11/2021 có bán 02 thùng bia Tiger cho ông Nguyễn L1 được số tiền 450.000 đồng nhưng không nói nguồn gốc bia do trộm cắp mà có. Do đó, không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với ông Nguyễn L1.
Đối với Phan Hữu T3 có xin Ông Tấn V1, Nguyễn Hoài V 24 lon bia Heniken Silver để sử dụng vào ngày 06/12/2021, tuy nhiên T3 không biết nguồn gốc 24 lon bia trên do V1, V trộm cắp mà có nên không xem xét, xử lý đối với Phan Hữu T3.
Đối với các nội dung Toà án đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát không điều tra bổ sung, căn cứ Điều 280, Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án, cũng như không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với Nguyễn Thị Cẩm H2 và Trần Duy K.
[3] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, 135, 136, 280, 292 và Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Nguyễn Hoài V, Ông Tấn V1, Nguyễn Xuân L, Võ Nguyễn Hoàng L3 và Nguyễn Hoàng L4 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Áp dụng Điều 38, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/01/2024.
-
Áp dụng Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Ông Tấn V1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt với Bản án số 07/2024/HSST ngày 04/3/2024 của Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, buộc bị cáo Nguyễn Xuân L phải chấp hành: 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2023.
-
Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Võ Nguyễn Hoàng L3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Áp dụng Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng L4 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD-R chứa 03 đoạn Video được trích xuất từ camera tại quán H4.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Triều |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Nguyễn Hoài V, Ông Tấn V1, Nguyễn Xuân L, Võ Nguyễn Hoàng L3 và Nguyễn Hoàng L4 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. [1] Áp dụng Điều 38, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/01/2024. [2] Áp dụng Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Ông Tấn V1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. [3] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 104 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 07/2024/HSST ngày 04/3/2024 của Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, buộc bị cáo Nguyễn Xuân L phải chấp hành: 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2023. [4] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Võ Nguyễn Hoàng L3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. [5] Áp dụng Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng L4 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
