|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20/5/2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thảo.
Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/02/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1977; nơi cư trú: tổ E, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tất H, sinh năm 1979; nơi cư trú: tổ E, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: tôi và ông Nguyễn Tất Hải đăng k kết hôn vào ngày 20/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn, 02 vợ chồng xây nhà ở trên phần đất của cha mẹ chồng tại địa chỉ: tổ E, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khoảng 05 năm trở lại đây, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã, lớn tiếng với nhau. Nguyên nhân là do ông H ghen tuông vô cớ, công việc không ổn định nên thường xuyên đi nhậu rồi về kiếm chuyện, gây sự, lớn tiếng với vợ con, không quan tâm, không phụ giúp vợ chăm sóc con, không có trách nhiệm với gia đình và cũng không chu cấp tiền nuôi dưỡng con chung. Mặc dù vợ chồng nhiều lần ngồi lại nói chuyện, tìm biện pháp hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không thành. Vì vậy, khoảng tháng 02 năm 2023, tôi cùng 02 con về sống tại ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương. Cũng từ đó, tôi và ông H không còn liên lạc với nhau; thỉnh thoảng ông H có đến thăm 02 con, mua đồ ăn vặt cho con.
Do vợ chồng sống ly thân đã lâu, không ai còn quan tâm đến nhau nên tình cảm không còn. Tôi nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Tuấn T1, sinh ngày 04/7/2008 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2012. Từ lúc sinh con ra cho đến nay, tôi là người trực tiếp và thường xuyên gần gủi, chăm sóc, nuôi dưỡng các con, năm bắt được tâm sinh lý của con. Tôi làm công việc nấu ăn thuê cho nhà hàng, thu nhập mỗi tháng hơn 15 triệu đồng, có nhà ở ổn định. Với mức thu nhập như vậy, tôi đã nuôi dưỡng các con từ lúc sinh ra cho đến nay phát triển toàn diện. Vì vậy, khi vợ chồng ly hôn tôi yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung để các con có niềm tin, động lực sống tốt hơn.
Về cấp dưỡng nuôi con: tôi không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, vì ông H làm nghề tự do, làm công việc thời vụ, khi nào có người gọi làm gì thì mới đi làm nên thu nhập không ổn định.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Tất H: đã được Tòa án cấp, tống đạt tập hợp lệ lần thứ hai các văn bản tố tụng để lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.
- Về nội dung vụ án: bà Nguyễn Hồng T và ông Nguyễn Tất H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Bà T xác định vợ chồng đã sống ly thân từ tháng năm 2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên mong muốn được ly hôn. Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến, do đó yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: bà T yêu cầu được nuôi hai con; xét thấy hiện nay bà T đang nuôi hai con, điều kiện chăm sóc tốt và các con có nguyện vọng được sống với bà T sau khi cha mẹ ly hôn, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, đây là ý chí tự nguyện của bà T nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án hôn nhân và gia đình, bị đơn sinh sống tại tổ E, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
[2] Sự tham gia phiên tòa của các đương sự: bị đơn ông Nguyễn Tất H đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ lần thứ hai các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Hồng T và ông Nguyễn Tất Hải đăng k kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11, quyển số 01 ngày 20/02/2008, là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng T xác định, mâu thuẫn vợ chồng là do ông H không có việc làm ổn định, thường xuyên đi nhậu về kiếm chuyện, gây sự, lớn tiếng với vợ con; không chăm lo cho gia đình và cũng không chu cấp tiền nuôi dưỡng con chung. Bà T và ông H hiện tại đã ly thân và cả hai đều không đưa ra được biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà T xác định không còn tình cảm với ông H và yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, ông H không đến Tòa án cho thấy ông không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, đồng thời bà T kiên quyết xin ly hôn. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà T yêu cầu ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận.
[2] Về con chung: bà T và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Tuấn T1, sinh ngày 04/7/2008 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2012. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử thấy: sau khi vợ chồng sống ly thân, một mình bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và cháu K; ông H không quan tâm, chăm sóc con và cũng không gửi tiền phụ bà T nuôi con; các cháu cũng có nguyện vọng sống cùng bà T nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, yêu cầu của bà T được nuôi hai con là có căn cứ chấp nhận. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai con, xét đây là ý chí tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: các đương sự phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 147, 227, 228, 238, 266, 269, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng T về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Tất H.
Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Tất H.
Về con chung: giao hai con chung tên Nguyễn Tuấn T1, sinh ngày 04/7/2008 và Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2012 cho bà Nguyễn Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Nguyễn Hồng T và ông Nguyễn Tất H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Hồng T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Tất H cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: bà Nguyễn Hồng T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001937 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
