Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/DS-ST

Ngày: 19-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Kiên Ngọc Minh

- Nguyễn Văn Xuôi

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu, Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Lập – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 372/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 giửa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Ung Văn D, sinh năm 1969
    Địa chỉ: ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Bị đơn: Bà Lâm Thị S, sinh năm 1982
    Địa chỉ: ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 12 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Ung Văn D trình bày: Ông có tham gia 03 dây hụi do bà Lâm Thị S làm đầu thảo (tên trong danh sách hụi viên K), cụ thể:

Dây thứ nhất, hụi tuần mệnh giá 2000.000 đồng khui ngày 04/8/2019, hụi gồm có 24 phần, mỗi tuần khui một lần, dây hụi này ông tham gia 01 phần và đã đóng được 10 lần số tiền đóng vào 14.000.000 đồng đến lần thứ 11 ngày 13/10/2019 thì bà S ngưng khui.

Dây thứ hai, hụi tuần mệnh giá 2000.000 đồng khui ngày 09/8/2019, hụi gồm có 21 phần, mỗi tuần khui một lần, dây hụi này ông tham gia 01 phần và đã đóng được 5 lần số tiền đóng vào 7.000.000 đồng đến lần thứ 6 ngày 13/10/2019 thì bà S ngưng khui.

Dây hụi tháng mệnh giá 5000.000 đồng khui ngày 20/02/2019, hụi gồm có 32 phần, mỗi tháng khui một lần, dây hụi này ông tham gia 01 phần và đã đóng được 8 lần số tiền đóng vào 21.300.000 đồng đến lần thứ 9 ngày 20/10/2019 thì bà S ngưng khui.

Tổng số tiền ông đóng từng lần của 03 dây hụi này là 42.300.000 đồng. Do bà S không khui hụi tiếp nên các hụi viên gửi đơn đến công an huyện C giải quyết, ngày 07/02/2023 bà S thừa nhận số nợ của các hụi viên. Đến ngày 09/4/2023 bà S làm tờ cam kết trả từng lần cho ông nhưng đến nay bà S cố tình không trả.

Nay ông D yêu cầu bà S trả số tiền hụi đã đóng cho bà S bằng 42.300.000 đồng như bà S đã cam kết nợ, không yêu cầu gì thêm.

Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, bà Lâm Thị S đều vắng mặt nên không có lời khai trình bày ý kiến.

Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Càng Long:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án nhưng chưa thực hiện về yêu cầu xác minh theo văn bản số 02/YC-VKS-DS ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long. Từ khi thụ lý vụ án nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn bà Lâm Thị S được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử chưa chấp hành để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà S trả số tiền hụi cho ông D bằng 42.300.000 đồng và bà S phải chụi án phí theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Lâm Thị S trú tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh trả tiền của 03 dây hụi bằng 42.300.000 đồng, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tham dự phiên toà của các đương sự: Bị đơn bà Lâm Thị S từ khi thụ lý đến đưa vụ án ra xét xử đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà S.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Ưng Văn D yêu cầu bà Lâm Thị S trả số tiền hụi 42.300.000 đồng xuất phát từ giao dịch hụi gồm: Hụi tuần mệnh giá 2000.000 đồng khui ngày 04/8/2019, hụi gồm có 24 phần, ông D tham gia 01 phần và đã đóng được 10 lần số tiền đóng vào 14.000.000 đồng; Hụi tuần mệnh giá 2000.000 đồng khui ngày 09/8/2019, hụi gồm có 21 phần, ông D tham gia một phần đã đóng được 5 lần số tiền đóng vào 7.000.000 đồng và H tháng mệnh giá 5000.000 đồng khui ngày 20/02/2019, hụi gồm có 32 phần, ông D tham gia 01 phần và đã đóng được 8 lần số tiền đóng vào 21.300.000 đồng, việc đóng tiền cho bà S giao trực tiếp và chuyển khoảng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông D đã giao nộp bản chính 02 văn bản ghi ngày 04/8/2019, ngày 09/8/2019 đều có tiêu đề “Khui hụi tuần” có thể hiện rõ số tiền mà ông D đã đóng vào từng lần khui và 01 văn bản chính ghi ngày 20/02/2019 có tiêu đề “Danh sách hụi viên” không thể hiện rõ về số tiền mà ông D đã đóng vào từng lần khui; Tuy nhiên, ông D có cung cấp Tờ cam kết ngày 09/4/2023 có nội dung và chữ ký của bà S ghi: “Vào năm 2019 tôi có chơi hụi với ông Ung Văn D, sinh năm 1969, nơi thường trú ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chơi hụi tôi đã bị vỡ hụi nên tôi có thiếu tiền hụi của ông Ưng Văn D tổng số tiền 42.3000.000 đồng (bốn mươi hai triệu ba trăm nghìn đồng). Tôi cam kết với ông D tôi trả từng lần vào ngày 10 hàng tháng bắt đầu vào ngày 10/6/2023 đến khi dứt nợ. Nếu tôi không thực hiện đúng với nội dung cam kết, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.” Và tại phiên toà ông D cung cấp thêm 04 chứng từ chuyển khoảng từ ngày 22/7/2019 đến ngày 25/9/2019 tổng số tiền 24.500.000 đồng theo ông D cho rằng chuyển tiền đóng tiền hụi cho bà S do ông Nguyễn Hữu T là chồng bà S nhận. Ngoài ra, theo biên bản ghi lời khai bà S tại

Cơ quan điều tra Công an huyện C, bà S có thừa nhận bể hụi và có nợ tiền hụi của nhiều hụi viên và theo lời khai của những hụi viên tham gia chơi hụi của bà S như ông Ưng Bảo Q, bà Huỳnh Thị L, bà Ưng Thị C đều xác nhận ông D có tham gia hụi của bà S làm đầu thảo đã tự ý ngưng khui từ ngày 20/10/2019 cho đến nay. Như vậy, việc ông D tham gia hụi và có đóng hụi là có thật. Bị đơn bà Lâm Thị S trong quá trình tố tụng đều vắng mặt không có lời khai ý kiến và không cung cấp chứng cứ nào khác. Từ những cơ sở trên, việc ông D yêu cầu bà S trả số tiền tổng cộng của 02 dây hụi là 42.300.000 là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 15, 16, 17, 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông D được chấp nhận nên bà S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Ý kiến tố tụng đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát về yêu cầu xác minh theo văn bản số 02/YC-VKS-DS ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long là không cần thiết bởi lẽ tại phiên toà nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ chứng cứ phù hợp với quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với ý kiến về nội dung vụ án phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 217; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 357, Điều 468, Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18, khoản 1 Điều 21 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ưng Văn D.
  2. Buộc bà Lâm Thị S phải có nghĩa vụ trả tiền hụi cho ông Ưng Văn D số tiền 42.300.000 đồng (Bốn mươi hai triệu ba trăm ngàn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lâm Thị S phải nộp 2.115.000 đồng (Hai triệu một trăm mười lăm ngàn đồng). Ông Ưng Văn D không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí gồm: số tiền 533.000 đồng (Năm trăm ba mươi ba ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001305; số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001306 và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001307 thu cùng ngày 14 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà. Ông Ưng Văn D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lâm Thị S có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Trà Vinh ;
  • -VKSND huyện Càng Long;
  • -CCTHADS huyện Càng Long;
  • -Các đương sư;
  • -Lưu HS,TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Huỳnh Liêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 44/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc bà Lâm Thị Son phải có nghĩa vụ trả tiền hụi cho ông Ưng Văn Dũng số tiền 42.300.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger