|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST
Ngày 18-9-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Nguyễn Thị Tư
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 661/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H; nơi cư trú: Số A đường N, tổ dân phố số G, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H1; nơi cư trú: Số A đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự ly hôn và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn ngày 09/8/2013 tại Ủy ban nhân dân phường M, N, thành phố Hải Phòng.
Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp. Từ khoảng năm 2019 đến nay, anh chị đã sống ly thân, chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc, chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H1.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 30/11/2013 và Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 24/11/2019. Từ khi ly thân, các con sinh sống cùng chị H. Nay chị H đề nghị Toà án giao cả hai con cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 20/8/2024, bị đơn anh Nguyễn Mạnh H1 trình bày:
Anh Nguyễn Mạnh H1 và chị Trần Thị H có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 09/8/2013 tại Ủy ban nhân dân phường M, N, thành phố Hải Phòng.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng nhau một thời gian. Sau đó vì nhiều lý do chị H đã cùng các con về nhà mẹ đẻ sinh sống đến nay. Nay anh xác định vẫn còn tình cảm với chị H, không mong muốn vợ chồng ly hôn nên đề nghị Toà án hoà giải cho vợ chồng anh được đoàn tụ để cùng nuôi dạy các con.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 30/11/2013 và Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 24/11/2019. Hiện nay các con đều đang sinh sống cùng chị H, hàng tháng anh vẫn cấp dưỡng đầy đủ cho con. Nếu chị H cương quyết ly hôn thì anh đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng hai con, anh vẫn sẽ cấp dưỡng cho con như hiện tại và chị H không được ngăn cấm việc anh gặp gỡ các con.
- Về tài sản chung: Anh H1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Mạnh H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Nguyễn Mạnh H1 không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về cuộc sống hôn nhân của chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1. Các lời khai đại diện gia đình cũng như đại diện của chính quyền địa phương thể hiện cuộc sống chung của anh chị có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, đã sống ly thân nhiều năm nay và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn
chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H1. Về con chung: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 có hai con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 30/11/2013 và Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 24/11/2019. Giao hai con là Nguyễn Ngọc A và Nguyễn Bảo A1 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Anh chị không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Xét về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Mạnh H1 có nơi cư trú trên địa bàn quận N, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân:
[3] Điều kiện và quá trình kết hôn như chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 đã trình bày, hôn nhân giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Gia đình cũng đã hoà giải nhưng không có kết quả. Chị H và anh H1 đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2019 không còn liên quan về tình cảm cũng như về kinh tế. Anh H1 đề nghị Toà án hoà giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không đến Toà án, không có mặt tại các buổi hoà giải. Hội đồng xét xử xét thấy, vì khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về việc nuôi con:
[4] Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 có hai con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 30/11/2013 và Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 24/11/2019. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H và anh H1 đều có quan điểm đề nghị Toà án giao hai con cho chị H nuôi dưỡng. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ thể hiện: Từ khi chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 sống ly thân, hai con sinh sống cùng chị H; đồng thời cháu Nguyễn Ngọc A có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, giao hai con cho chị H nuôi là phù hợp với quy định của pháp luật, quan điểm của anh chị và cũng là nguyện vọng của cháu Nguyễn Ngọc A. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về việc chia tài sản:
[5] Anh chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[6] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H1.
2. Về việc nuôi con:
Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 có hai con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 30/11/2013 và Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 24/11/2019. Giao hai con là Nguyễn Ngọc A và Nguyễn Bảo A1 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về việc chia tài sản:
Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003150 ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Phương |
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
