|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/DS - ST
Ngày 18/9/2024
V/v Tranh chấp xác định quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Đoàn Văn Lước;
- 2. Ông Bồ Quốc Khanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đức Thắng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2024/TLST- DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp xác định quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-DS ngày 05/9/2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn:
- Ông Vũ Văn D, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bà Hà Thị V, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thái Thanh H, sinh năm: 1979, địa chỉ: Tổ B, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương và ông Bùi Tấn Đ, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, ông H vắng mặt, ông Đ có mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Văn Đ1, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vũ Thị T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Bà Vũ Thị D1, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
- Bà Vũ Thị C, sinh năm 1945. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Bà Vũ Thị V1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
- Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tiểu khu C, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Ông Vũ Văn B, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Bà Vũ Thị Y, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Ông Vũ Văn Đ2, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Bà Vũ Thị N1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Ông Vũ Văn T3, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Ông Vũ Công V2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/11/2023, đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và xác định lại yêu cầu khởi kiện đề ngày 03/6/2024, các lời khai tại Tòa án nguyên đơn ông Vũ Văn D, bà Hà Thị V và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu:
- Yêu cầu Toà án xác định phần đất có diện tích 10.736,8m² (Trong đó 4.114,0m² thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10; diện tích đất 6.612,3m² thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ số 11) toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V.
- Yêu cầu Toà án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa DL 587729, số vào số cấp GCN: CN10189 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 29/9/2023 cho hộ bà Hà Thị V từ tên người sử dụng đất là “Hộ bà Hà Thị V” thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V.
Nội dung vụ việc như sau:
Nguồn gốc các thửa đất này là do vợ chồng ông D và bà V nhận chuyển nhượng của người khác vào năm 1980, 1990, trực tiếp quản lý sử dụng và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là tài sản chung của vợ chồng ông D và bà V, không liên quan đến những người khác có tên trong Sổ hộ khẩu gia đình vào thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tên của chủ sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên lẽ ra phải ghi là tên vợ chồng là ông D và bà V nhưng Nhà nước đã ghi sai tên chủ sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành “Hộ bà Hà Thị V”. Chính vì chủ thể quyền sử dụng đất nêu trên ghi nhận chưa đúng với chủ sử dụng đất thực sự của các thửa đất, không đúng với nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sử dụng đất của vợ chồng ông D và bà V, gây khó khăn cho vợ chồng ông D và bà V. Vì vậy, ông D và bà V khởi kiện ra Tòa án có các yêu cầu nêu trên.
Các tài sản cây trồng trên đất nguyên đơn không tranh chấp, nguyên đơn thống nhất kết qua đo đạc, thẩm định tại chỗ Tòa án kết hợp các cơ quan chuyên môn thực hiện.
Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc tài sản ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V thỏa thuận chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Vũ Văn D và bà Hà Thị V thỏa thuận chịu theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Vũ Văn Đ1 trình bày:
Ông Vũ Văn Đ1 thống nhất lời trình bày của ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V là đúng. Diện tích đất phía nguyên đơn yêu cầu diện tích 10.736,8m² (trong đó 4.114,0m² thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10; diện tích đất 6.612,3m² thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ số 11) toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc do cha mẹ của ông Đ1 là ông D và bà V nhận chuyển nhượng khoảng năm 1988 đến năm 1990, lúc đó cha mẹ ông Đ1 chưa sinh ông Đ3 đời.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì ông D và bà V là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Ông Đ1 được cha mẹ nuôi cho đi học đến hết lớp 9 (khoảng năm 2007) thì nghỉ học, đi làm công nhân nên cũng không có đóng góp công sức gì vào các thửa đất nêu trên. Năm 1999, lúc ông D, bà V đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Đ1 mới có 9 tuổi, vẫn còn đi học nên cũng không có công sức đóng góp gì và vẫn chưa đủ 15 tuổi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị D1, bà Vũ Thị T trình bày: Bà D1, bà T là con của ông D và bà V, thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D và bà V. Xác định tài sản tranh chấp nêu trên là của ông riêng ông D và bà V, bà D1 và bà T không có yêu cầu nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N; bà Vũ Thị H1; ông Vũ Văn T3; bà Vũ Thị Y; ông Vũ Công V2; ông Vũ Văn Đ2; bà Vũ Thị C; ông Vũ Văn V3; ông Vũ Văn B; bà Vũ Thị T2; bà Vũ Thị N1; ông Vũ Văn T1; bà Vũ Thị V1 trình bày:
Thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D và bà V. Xác định tài sản tranh chấp nêu trên là của riêng ông D và bà V, không có yêu cầu nào khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã áp dụng đầy đủ đúng quy định của pháp luật, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Vũ Văn D, bà Hà Thị V tranh chấp quyền sử dụng đất tài sản hộ gia đình với ông Vũ Văn Đ1, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, Hội đồng xét xử xác định là quan hệ pháp luật dân sự “Tranh chấp xác định quyền sử dụng đất”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên theo quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giải quyết vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V yêu cầu Toà án xác định phần đất có diện tích 10.736,8m² (Trong đó 4.114,0m² thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10; diện tích đất 6.612,3m² thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ số 11) toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa DL 587729, số vào số cấp GCN: CN10189 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 29/9/2023 cho hộ bà Hà Thị V từ tên người sử dụng đất là “Hộ bà Hà Thị V” thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V.
Xét diện tích đất nêu trên có nguồn gốc do vợ chồng ông D và bà V nhận chuyển nhượng vào năm 1980, 1990, sau khi nhận chuyển nhượng đất ông D và bà V là người trực tiếp quản lý, sử dụng và đăng ký quyền sử dụng đất, nhưng được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ Hộ bà Hà Thị V. Về bản chất thực tế diện tích đất nêu trên là do ông D, bà V nhận chuyển nhượng thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông D, bà V, không liên quan đến tài sản của hộ gia đình. Hiện nay, các thành viện của hộ gia đình của ông D và bà V đều khẳng định yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của ông D và bà V là đúng và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D và bà V, đây được xem là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, việc yêu cầu khởi kiện của ông D và bà V là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D và bà V.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc tài sản ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V thỏa thuận chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật nờn Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về án phí: Ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V thỏa thuận chịu theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 166, Điều 190 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 4, Điều 20, khoản 7 Điều 95, khoản 7 Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- - Điều 9, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V đối với bị đơn ông Vũ Văn Đ1 về việc “Tranh chấp xác định quyền sử dụng đất” .
- Xác định diện tích đất 10.736,8m² (Trong đó 4.114,0m² thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10; diện tích đất 6.612,3m² thuộc thửa đất số 56, tờ bản đồ số 11) toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa DL 587729, số vào số cấp GCN: CN10189 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 29/9/2023 cho hộ bà Hà Thị V từ tên người sử dụng đất là “Hộ bà Hà Thị V” thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V.
- Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản:
- + Ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V phải chịu số tiền 5.650.679 đồng (Năm triệu sáu trăm năm mươi ngàn sáu trăm bảy mươi chín đồng), ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V đã thực hiện xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003608 ngày 11 tháng 01 năm 2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Ông Vũ Văn D và bà Hà Thị V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí còn dư là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Tiến Lợi |
Bản án số 44/2024/DS - ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp xác định quyền sử dụng đất
- Số bản án: 44/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
