|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/DS-ST Ngày: 18/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2024/TLST - DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 86/2024/QĐST.DS ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thanh N, sinh năm 1966; Địa chỉ: khu V, đường T nối dài, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt);
- Bị đơn: Bà Trịnh Kim Hồng S, sinh năm 1991 và Lâm Vĩnh C, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: số D, đường L, tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn trình bày:
Do chỗ quen biết nên ngày 01/12/2020, bà N có cho bà S và ông C vay số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, có làm biên nhận, lãi suất 3%/ tháng. Mục đích vay nhằm kinh doanh mua bán hàng hóa trẻ em. Thời điểm vay tiền, bà S và ông C giao kết thời gian trả tiền vay và lãi suất trong 06 tháng kể từ ngày vay tiền (ngày 01/12/2020). Tuy nhiên đến nay không thanh toán số tiền vốn vay và tiền lãi cho bà N. Nay bà Lâm Thanh N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Trịnh Kim Hồng S và ông Lâm Vĩnh C trả số tiền vốn vay 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 01/12/2020 đến khi xét xử vụ án.
Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là Biên nhận ngày 01/12/2020 (bản chính). Ngoài tài liệu chứng cứ này nguyên đơn xác định không có tài liệu chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.
Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà S và ông C vắng mặt không tham gia phiên họp.
Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là biên nhận nợ. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền lãi, vốn vay nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả vốn vay 100.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về lãi suất cho vay, nguyên đơn cho rằng có thỏa thuận lãi suất cho vay là 3% nhưng Biên nhận ngày 01/12/2020 không thể hiện có thỏa thuận lãi suất cho vay, không thỏa thuận thời hạn vay và nguyên đơn cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 mức lãi suất là 10%/năm, thời gian được tính kể từ ngày có đơn khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là ông Lâm Vĩnh C, bà Trịnh Kim Hồng S có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn Lâm Vĩnh C, bà Trịnh Kim Hồng S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử các đương sự.
Về nội dung:
[3] Bà Lâm Thanh N khởi kiện yêu cầu ông Lâm Vĩnh C, bà Trịnh Kim Hồng S trả số tiền vốn vay 100.000.000 đồng.
Xét, hợp đồng vay giữa bà N và ông C, bà S được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, có lập biên nhận nợ và nội dung thỏa thuận hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Căn cứ vào Biên nhận nợ ngày 01/12/2020. Thấy rằng, giữa bà N và bà S, ông C có giao kết hợp đồng vay tiền. Quá trình vay do bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả vốn vay, tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu bà S, ông C có trách nhiệm trả vốn vay là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, xét chấp nhận.
[5] Về tiền lãi: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi kể từ ngày lập biên nhận ngày 01/12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất quy định theo pháp luật. Bà N cho rằng có thỏa thuận lãi suất cho vay là 3% nhưng Biên nhận ngày 01/12/2020 không thể hiện có thỏa thuận lãi suất cho vay, không thỏa thuận thời hạn cho vay và nguyên đơn cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên căn cứ vào khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 mức lãi suất là 10%/năm, thời gian được tính kể từ ngày 17/8/2023 bà N có đơn khởi kiện.
Số tiền lãi của khoản vay 100.000.000 đồng từ ngày 17/8/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (18/7/2024) là: 100.000.000 đồng x 0.83%/tháng x 11 tháng 29 ngày = 9.932.000đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Lâm Vĩnh C, bà Trịnh Kim Hồng S có trách nhiệm trả vốn vay, tiền lãi nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.496.600đồng.
- - Yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thanh N được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho bà N đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thanh N.
Buộc ông Lâm Vĩnh C, bà Trịnh Kim Hồng S có trách nhiệm trả cho bà Lâm Thanh N số tiền 109.932.000 (một trăm lẻ chín triệu chín trăm ba mươi hai nghìn) đồng (trong đó vốn vay 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, tiền lãi 9.932.000 (chín triệu chín trăm ba mươi hai nghìn) đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lâm Vĩnh C, bà Trịnh Kim Hồng S có trách nhiệm trả vốn vay, tiền lãi nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.496.600 (năm triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm) đồng.
Bà Lâm Thanh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà N số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003204 ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
[3] Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo của các đương sự là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
- Số bản án: 44/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
