|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 17-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lô Thị Huyền và Bà Nguyễn Thị Thu Lê
Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Nhà văn hóa cộng đồng Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1990 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (Đã chết) và con bà Đậu Thị V; Vợ, con: Chưa có ; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 19/6/2007, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Cùng ngày xử phạt bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 5 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- + Anh Đồng Văn G.Trú tại: Khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ ngày 29/5/2024, Nguyễn Văn T lên cơn nghiện chất ma túy nên đã đi bộ từ bến thượng lưu thuộc bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An đến khu vực đầu bản Côi, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 (một) gói ma túy bên ngoài được gói bằng ni lông màu trắng bên trong có viên nén màu hồng với số tiền 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng). Mua ma túy xong, Nguyễn Văn T đi bộ về quay lại bến thượng lưu.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Văn T đi về đến khu vực bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T 01 (một) gói được gói bằng ni lông màu trắng bên trong có chứa các viên nén màu hồng. T khai nhận với tổ công tác số viên nén màu hồng là ma tuý hồng phiến của T mua về để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 585 /KL-KTHS(D2-MT) ngày 02/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nên màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn T có tổng khối lượng là 0,88 gam (Không phảy tám mươi tám gam).
Bản Cáo trạng số: 44/CT-VKS-TD ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, người làm chứng đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 11 giờ, ngày 29/5/2024, tại bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,88g (Không phẩy tám mươi tám gam) Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho T. Hiện cơ quan điều ra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.
[7] Xử lý vật chứng: 0,88 gam (không phẩy tám mươi tám gam ) Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Văn T. Đã lấy 0,2g (không phẩy hai gam) gửi đi giám định. Hiện còn lại 0,68g (không phẩy sáu mươi tám gam) Methamphetamine cùng vỏ bao và giấy niêm phong cũ được niêm phong là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tiêu hủy;
[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu phải án phí hình sự sơ thẩm . Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/5/2024.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 02.7.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An)
[3] Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 3 khoản 1 Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ ( Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 17/7/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Cường |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T- Tàng trữ trái phép chất ma túy
