|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2023/DS-PT Ngày 16-11-2023 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương
Các Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân và bà Nguyễn Thị Kim Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 8 năm 2023 về việc: “tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2023/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 61/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 9 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐ-PT ngày 25 tháng 9 năm 2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 04/2023/QĐPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 05/2023/QĐPT-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị Đ, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (đã chết)
Người kế thừa quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đ: Anh Vũ Duy H, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phạm Xuân T – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Phạm Hữu L và cộng sự, Đoàn luật sư
tỉnh T. Địa chỉ: Số C, đường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt)
2. Bị đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1954 và anh Mai Đình Đ1, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (anh Đ1 có mặt, bà N vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mai Đình K, sinh năm 1957 (có mặt);
- Anh Mai Đình Đ2, sinh năm 1982 (có mặt);
- Chị Mai Thị Hồng L1, sinh năm 1978 (có mặt);
Đều tại địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Thái Bình.
- Bà Mai Thị D, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Chị Mai Thị Lan A, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lan A1: Bà Trần Thị L2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
- Anh Mai Hồng L3, sinh năm 1975; địa chỉ: P, Nhà H, khu đô thị T, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Anh Mai Hồng M, sinh năm 1977; địa chỉ: Số nhà C, ngách F, ngõ A, thôn T, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội (có mặt).
- - Chị Mai Thị V, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Anh Vũ Duy H, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt).
Người kháng cáo: bà Mai Thị Đ (nguyên đơn) và ông Mai Đình K (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - bà Mai Thị Đ trình bày:
Bố bà cụ Mai Đình Đ3 (sinh năm 1918, chết năm 1993), mẹ bà cụ Văn Thị B (sinh năm 1922, chết năm 2013). Cụ Đ3 và cụ B sinh được 06 người con là:
- Ông Mai Hồng L4, sinh năm 1946 (chết năm 2007) có vợ Nguyễn Thị Đ4, sinh năm 1946 (chết năm 2020). Ông L4 và bà Đ4 có 04 người con là: Anh Mai Hồng L3, anh Mai Hồng M, chị Mai Thị Hồng L1, chị Mai Thị Lan A (con nuôi).
- Ông Mai Đình Đ5, sinh năm 1949 (hy sinh năm 1972 là liệt sỹ), không có vợ con.
- Ông Mai Đình N1, sinh năm 1952 (đã chết năm 2004) có vợ là Bùi Thị N, sinh năm 1954. Ông N1 và bà N có 03 con là: Chị Mai Thị V, anh Mai Đình Đ2, anh Mai Đình Đ1.
- Bà Mai Thị Đ, sinh năm 1954
- Ông Mai Đình K, sinh năm 1957
Đều có Địa chỉ: Thôn Đông, xã Đông Sơn, huyện Đông Hưng, Thái Bình
- Bà Mai Thị D, sinh năm 1961
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Ngoài ra, bố mẹ bà không có người con riêng hoặc con chung, con nuôi nào khác.
Năm 1990 cụ Đ3, cụ B còn sống cho bà diện tích đất là 120m² và đã được UBND xã tách thửa theo bản đồ đo đạc năm 1991 và bà đã thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước đối với diện tích đất 120m². Vị trí thửa đất bố mẹ bà cho nằm ở phía Tây thẳng ngõ đi vào. Theo đo đạc năm năm 2007 thì diện tích là 118,2m² và vị trí cũng không thay đổi.
Năm 1987, bà được cấp diện tích đất vườn táo 115m² theo diện người neo đơn vì do bà đã ly hôn với chồng. Năm 1989, bà bán diện tích này cho ông T1 (theo ông T1 nói là mua hộ ông bà T2). Lúc đó do bố mẹ bà già yếu nên bảo bà bán diện tích đất vườn táo và về ở cùng bố mẹ nên bố mẹ bà mới cho bà diện tích đất 120m² mục đích để trông nom bố mẹ.
Hiện ông Mai Đình K là người quản lý tài sản của cụ Đ3, cụ B vì hiện tại ông K là con trai duy nhất còn sống của cụ Đ3, cụ B.
Quan điểm của bà yêu cầu Tòa án ghi nhận diện tích đất 120m² cụ Đ3, cụ B đã cho bà và trước khi chết bố mẹ bà không để lại di chúc nên bà đề nghị chia di
sản thừa kế của cụ Mai Đình Đ3 và cụ Văn Thị B để lại là: 193,6m² đất ở tại thửa 413, tờ bản đồ số 07/DC tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Bà đề nghị được hưởng bằng hiện vật là đất.
Đối với đất nông nghiệp là di sản của cụ Đ3, cụ B, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – bà Bùi Thị N và anh Mai Đình Đ1 trình bày:
Bố bà là cụ Mai Đình Đ3 (sinh năm 1918, chết năm 1993), mẹ bà là Văn Thị B (sinh năm 1922, chết năm 2013). Cụ Đ3 và cụ B sinh được 06 người con là:
- Ông Mai Hồng L4, sinh năm 1946 (chết năm 2007) có vợ Nguyễn Thị Đ4, sinh năm 1946 (chết năm 2020). Ông L4 và bà Đ4 có 04 người con là: Anh Mai Hồng L3, Anh Mai Hồng M, chị Mai Thị Hồng L1, chị Mai Thị Lan A (con nuôi).
- Ông Mai Đình Đ5, sinh năm 1949 (hy sinh năm 1972 là liệt sỹ), không có vợ con.
- Mai Thị Đ, sinh năm 1954
- Ông Mai Đình K, sinh năm 1957
Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Bà Mai Thị D, sinh năm 1961
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Ông Mai Đình N1, sinh năm 1952 (chết năm 2004) là chồng bà. Bà và ông N1 03 con chung: Chị Mai Thị V, anh Mai Đình Đ2, anh Mai Đình Đ1.
Ngoài ra, bố mẹ bà không có người con riêng hoặc con chung, con nuôi nào khác, bà và ông N1 cũng không có người con nuôi nào.
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Đ, cụ thể: Năm 1989, cụ Đ, cụ B được cấp diện tích đất 115m² ở khu vườn táo diện tích đất này là xã cấp cho cụ Đ3, cụ B thuộc gia đình chính sách (ông Mai Đình Đ5 là liệt sỹ). Sau đó, cụ Đ3 và cụ B cho bà Đ nhưng bà Đ đã bán. Năm 1991, bà Đ lại được cụ Đ6, cụ B chia cho 120m² là không đúng mà thực tế bản đồ 299/TTg cụ Đ3, cụ B có diện tích đất là 271m² nên việc bà Đ yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Đ6, cụ B là 193,6m² theo bản đồ 299/TTg là không đúng. Quan điểm của bà đề nghị Tòa án phải cộng cả diện tích đất 115m² cấp năm 1989 ở khu vườn táo và 271m² theo bản đồ 299/TTg để chia mới phù hợp và không đồng ý chia đất cho bà Đ mà sẽ thanh
toán bằng giá trị di sản.
Cụ Đ3, cụ B có ngôi nhà cấp 4 được xã hỗ trợ xây cho gia đình chính sách năm 2006, do nhà đã xuống cấp tháng 8/2022 ông K, anh Đ1, anh Đ2 con trai bà đã sửa chữa, lợp mái tôn làm nơi thờ cúng với số tiền là 30.000.000 đồng (trong đó ông K, anh Đ1, anh Đ2 mỗi người đóng góp 10.000.000 đồng). Số tiền này anh Đ1 tự nguyện đóng góp, anh không yêu cầu gì đối với số tiền này.
Con trai bà là anh Đ1, anh Đ2 cùng các anh L3, anh M đã đóng góp mỗi người 5.000.000 đồng để xây dựng cho chị Mai Thị Lan A căn nhà cấp 4 diện tích 20m². Số tiền này do anh Đ1, anh Đ2, anh L3, anh M tự nguyện đóng góp, các anh không yêu cầu gì đối với số tiền này.
Đối với phần đất di sản thừa kế của cụ Đ3, cụ B để lại bà N, anh Đ1 thống nhất giao cho ông Mai Đình K là người quản lý di sản.
Đối với đất nông nghiệp là di sản của cụ Đ3, cụ B, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Ông Mai Đình K trình bày:
Ông nhất trí với ý kiến của bà N về năm sinh, năm mất của cụ Đ3, cụ B và họ tên, năm sinh, địa chỉ các hàng thừa kế như bà N trình bày và không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Đ như bà N trình bày và đề nghị được giữ lại toàn bộ diện tích đất 271m² của cụ Đ3, cụ B theo bản đồ 299/TTg làm nơi thờ cúng tổ tiên. Ông đồng ý nhận là người quản lý di sản của cụ Đ6, cụ B. Tại phiên tòa ông có yêu cầu chia di sản của cụ Đ3, cụ B đối với phần diện tích đất nông nghiệp. Về việc sửa chữa nhà ông nhất trí ý kiến của anh Đ1 và không yêu cầu giải quyết số tiền ông tự nguyện bỏ ra để sửa chữa.
+ Bà Mai Thị D trình bày:
Bà nhất trí về họ tên, năm sinh, năm mất, các con của cụ Đ3 và cụ B và các hàng thừa kế như bà Đ trình bày. Bố mẹ có ngôi nhà cấp 4 ba gian lợp ngói cùng một số công trình phụ trợ khác nằm trên mảnh đất ở có diện tích 271m². Năm 1991, khi cụ Đ3, cụ B còn sống có cho bà Đ 120m². Diện tích đất còn lại là 151m², bà xác định là di sản thừa kế của cụ Đ3 và cụ B. Theo đo đạc hiện trạng năm 2007, mảnh đất trên có diện tích là 193,6m² tại thửa đất số 413, tờ bản đồ số
7 có địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Trước khi chết, cụ Đ3, cụ B không để lại di chúc hay văn bản tặng cho nào. Bà đề nghị Tòa án chia diện tích đất 193,6m² là di sản thừa kế của cụ Đ3 và cụ B và xin được hưởng bằng hiện vật là đất. Bà không biết ai là người đang quản lý di sản của cụ Đ3, cụ B. Bà không yêu cầu giải quyết đối với diện tích đất nông nghiệp của cụ Đ3, cụ B.
+ Anh Mai Đình Đ2 trình bày:
Anh nhất trí về họ tên, năm sinh, năm mất, các con của cụ Đ3 và cụ B cũng như các hàng thừa kế như ông K, bà N trình bày. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đ đối với di sản của cụ Đ3, cụ B để lại tại thửa đất số 413, tờ bản đồ số 7 có diện tích 193,6m² - địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Trước khi chết, cụ Đ3, cụ B không để lại di chúc hay văn bản tặng cho nào. Quan điểm của anh là để mảnh đất đó làm nơi thờ cúng và giao cho ông K có quyền quản lý di sản.
Về số tiền anh bỏ ra sửa chữa nhà cấp 4 của cụ Đ3, cụ B và gian nhà của chị Mai Thị Lan A, anh không yêu cầu giải quyết.
+ Anh Mai Hồng M, anh Mai Hồng L3 và chị Mai Thị Hồng L1 trình bày:
Các anh chị đều nhất trí về họ tên, năm sinh, năm mất, các con của cụ Đ3 và cụ B và các hàng thừa kế như như ông K trình bày. Các anh chị là con của ông Mai Hồng L4 (sinh năm 1946, chết năm 2007) và bà Nguyễn Thị Đ4 (sinh năm 1946, chết năm 2020). Ông L4 và bà Đ4 có 04 người con là: Anh Mai Hồng L3, anh Mai Hồng M, chị Mai Thị Hồng L1, chị Mai Thị Lan A, sinh năm 1974 (con nuôi). Về nội dung các anh chị nhất trí ý kiến trình bày của bà N, ông K, anh Đ1, anh Đ2 và đồng ý để di sản của Đ3, cụ B làm nơi thờ cúng và giao cho ông K là người quản lý di sản. Đối với số 5.000.000 đồng, anh M, anh L3 tự nguyện góp để làm gian nhà cho chị Lan A1, các anh không yêu cầu giải quyết đối với số tiền này.
+ Anh Vũ Duy H trình bày:
Trên đất có các tài sản của các tài sản của anh gồm: 09 chậu si cảnh hình chữ nhật; 01 chậu đinh lăng hình chữ nhật; 02 chậu hình chữ nhật không có cây; 01 chậu si hình lục giác. Ngoài ra, anh không có tài sản nào khác trên đất. Đối với các tài sản gồm 13 chậu cây cảnh trên (gồm châu có cây và không có cây), anh không
yêu cầu Tòa án định giá tại buổi định giá ngày 13/01/2023. Anh sẽ chấp hành quyết định của Tòa án đối với các chậu cây cảnh trên.
+ Bà Trần Thị L2 - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Mai Thị Lan A trình bày:
Đề nghị HĐXX xem xét việc cụ Đ3, cụ B cho bà Đ 120m² là chưa hợp pháp và không đúng quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX xác định di sản của cụ Đ3, cụ B là 271m² theo bản đồ 299/TT để chia cho các hàng thừa kế và đảm bảo chỗ ở cho chị Mai Thị Lan A vì chị Lan A1 nhận thức không đầy đủ. Đối với phần diện tích đất nông nghiệp của cụ Đ3, cụ B bà Đ không yêu cầu chia nên cần chấp nhận và các hàng thừa kế khác cũng thống nhất để chị Lan A1 sử dụng phần đất nông nghiệp là hợp tình hợp lý.
Bản án số 05/2023/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 156, Điều 165, Điều 184, Điều 271, Điều 273 và khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 616, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Mai Thị Đ đối với diện tích 193,6m² đất ở tại thửa 413, tờ bản đồ số 07/DC tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
2. Xử:
2.1. Chấp nhận việc bà N, anh Đ1, anh Đ2, chị V, anh L3, anh M, chị L1 thống nhất giao cho ông Mai Đình K là người quản lý di sản là 192,2m² đất ở và các tài sản gắn liền với đất tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
- Ranh giới phía Đông (1) được xác định từ điểm 4, 5, 6 đến điểm 7 có chiều dài 7,890m giáp ngõ đi; Phía Đông (2) được xác định từ điểm 2 điểm 3 có chiều
dài 1,02m giáp ngõ đi; Phía Đông (3) được xác định từ điểm 19 đến điểm 20 dài 0,63m giáp đất chia cho bà Đ.
- Ranh giới phía Bắc được xác định từ điểm 1 đến điểm 2 có chiều dài 13,15m giáp đất hộ gia đình ông Phạm Văn B1; Phía Bắc 2 được xác định từ điểm 3 đến điểm 4 có chiều dài 5,98m giáp ngõ đi chung.
- Ranh giới phía Tây được xác định từ điểm 1, 18 đến điểm 17 dài 12,43m giáp phần đất hộ gia đình ông Phạm Quang H1.
- Ranh giới phía Nam được xác định từ điểm 17 đến điểm 19 dài 7,75m giáp ngõ đi chung; Phía Nam (2) được xác định từ điểm 7 đến điểm 20 dài 10,48m giáp đất giao cho bà Mai Thị Đ.
2.2. Giao cho bà Mai Thị Đ được quyền quản lý, sử dụng diện tích 128.1m² đất ở và các tài sản gắn liền với đất tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình có vị trí, ranh giới mốc giới, cụ thể như sau:
- Ranh giới phía Đông được xác định từ điểm 7, 8 đến điểm 9 có chiều dài 14,72m giáp đất ngõ đi chung.
- Ranh giới phía Bắc được xác định từ điểm 7 đến điểm 20 có chiều dài 10,48m giáp đất giao cho ông Mai Đình K.
- Ranh giới phía Tây được xác định từ điểm 10, 11, 12, 13 đến điểm 14 dài 15,78m giáp phần đất hộ gia đình ông Phạm Quang S; Phía Tây (2) được xác định từ điểm 14 đến điểm 19 giáp ngõ đi chung; Phía Tây (3) được xác định từ điểm 19 đến điểm 20 có chiều dài 0,63m giáp đất giao cho ông Mai Đình K.
- Ranh giới phía Nam được xác định từ điểm 9 đến điểm 10 dài 3,90m giáp phần đất hộ gia đình ông Phạm Quang S.
2.3. Phần vị trí, ranh giới mốc giới ngõ đi chung, cụ thể như sau:
- Ranh giới phía Đông được xác định từ điểm 14 đến điểm 19 có chiều dài 3,04m giáp đất giao quyền quản lý, sử dụng cho bà Mai Thị Đ.
- Ranh giới phía Bắc được xác định từ điểm 17 đến điểm 19 có chiều dài 7,75m giáp đất giao quyền quản lý cho ông Mai Đình K.
- Ranh giới phía Tây được xác định từ điểm 16 đến điểm 17 dài 2,38m giáp ngõ đi chung.
- Ranh giới phía Nam được xác định từ điểm 14, 15 đến điểm 16 dài 7,89m
giáp phần đất hộ gia đình ông Phạm Quang S.
(Có bản vẽ, đo đạc, sơ đồ, vị trí tọa độ các điểm kèm theo bản án sơ thẩm)
2.4. - Buộc ông Mai Đình K phải thanh toán giá trị di sản gồm đất ở và giá trị ngôi nhà cấp 4 cho chị Mai Thị Lan A số tiền là 7.016.579 đồng.
- Buộc ông K phải thanh toán giá trị di sản là ngôi nhà cấp 4 cho bà Đ và bà D mỗi người số tiền là 2.442.317 đồng.
- Buộc bà Mai Thị Đ phải thanh toán giá trị tài sản cho bà Mai Thị D số tiền là 25.624.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/6/2023, ông Mai Đình K kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận diện tích 115m² đất vườn táo là đất cấp cho đối tượng chính sách liệt sỹ Mai Đình Đ5 là con của cụ Mai Đình Đ3 và cụ Văn Thị B. Bà Mai Thị Đ đã tự ý bán diện tích đất này thì bà Đ phải có trách nhiệm với gia đình. Toàn bộ diện tích 271m² đất đã xây nhà tình nghĩa và làm nơi thờ cúng các cụ nên đề nghị giữ nguyên hiện trạng khuôn viên và không chấp nhận việc chia diện tích đất này.
Ngày 16/6/2023, bà Mai Thị Đ kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận 118,2m² đất (thửa số 417) là của bà vì cụ Mai Đình Đ3 và cụ Văn Thị B đã cho bà nên không phải là di sản thừa kế của cụ Đ3, cụ B. Di sản thừa kế của cụ Đ3, cụ B là 193,6m² đất (thửa số 413) tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Bà đề nghị chia theo pháp luật đối với 193,6m² đất và bà đề nghị được hưởng bằng hiện vật là đất.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ-VKS-DS ngày 20 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chia lại di sản thừa kế, khắc phục một số thiếu sót do chia di sản cho đương sự chưa đúng, vi phạm Điều 108 Bộ luật tố tụng dân sự; việc xác định di sản, phân chia di sản còn có thiếu sót, không chia tài sản bằng hiện vật cho chị Lan A1 là vi phạm Điều 660 Bộ luật dân sự làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Ngày 23/9/2023, bà Đ chết. Tại Biên bản xác minh ngày 30/10/2023, UBND xã Đ cung cấp: Bà Đ là con của cụ Mai Đình Đ3 (sinh năm 1918, chết năm 1993),
mẹ bà cụ Văn Thị B (sinh năm 1922, chết năm 2013). Bà Đ có chồng là ông Vũ Văn H2, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Ông H2 và bà Đ đã ly hôn từ năm 1984 và ông H2 đã chết. Bà Đ chỉ có một người con duy nhất là anh Vũ Duy H, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, ngoài ra không còn người con nào khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh H vẫn giữ nguyên kháng cáo của bà Đ, ông K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng; các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ và ông K, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Đ, ông K làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm; kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình làm trong thời hạn luật định do đó được thụ lý và đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Ngày 23/9/2023, bà Đ chết, bà Đ có một người con duy nhất là anh Vũ Duy H, vợ chồng bà Đ đã ly hôn năm 1984 nên anh H là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đ trong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt bà N, bà D, chị Lan A1, anh L3 và chị V, tuy nhiên họ đã vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không xuất trình tài liệu, chứng cứ gì chứng minh vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặt khác họ cũng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bà Đ, ông K và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Thái Bình đối với bản án sơ thẩm:
[2.1] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Mai Đình Đ3 (chết năm 1993) và cụ Văn Thị B (chết năm 2013), tính đến thời điểm bà Mai Thị Đ khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ Đ3, cụ B để lại vào tháng 10/2022 thì thời hiệu chia thừa kế vẫn còn theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự.
[2.2] Về người thừa kế và hàng thừa kế:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự và quá trình thu thập chứng cứ tại địa phương thì cụ Đ3, cụ B sinh được 06 người con là:
- Ông Mai Hồng L4, đã chết năm 2007; có vợ là Nguyễn Thị Đ4 (đã chết năm 2020). Ông L4 và bà Đ4 có 04 người con là: Anh Mai Hồng L3, anh Mai Hồng M, chị Mai Thị Hồng L1 và chị Mai Thị Lan A (con nuôi).
- Ông Mai Đình Đ5, đã hy sinh năm 1972, không có vợ con.
- Ông Mai Đình N1, đã chết năm 2004; có vợ là Bùi Thi N2 và có 03 con là: Chị Mai Thị V, anh Mai Đình Đ2, anh Mai Đình Đ1.
- Bà Mai Thị Đ, đã chết năm 2023, có con là Vũ Duy H. Chồng bà Đ là ông Vũ Văn H2, đã ly hôn năm 1984.
- Ông Mai Đình K.
- Bà Mai Thị D.
Ngoài ra, cụ Đ3, cụ B không có người con chung, con riêng, con nuôi nào khác.
Cụ Đ3 chết năm 1993, do đó hàng thừa kế của cụ G gồm: Cụ B, ông L4, ông N1, bà Đ, ông K và bà D.
Cụ B chết năm 2013, nên hàng thừa kế của cụ B gồm: Bà Đ, ông K, bà D, người thừa kế thế vị của ông L4 (anh L3, anh M, chị L1 và chị Lan A1 - do ông L4 chết năm 2007), người thừa kế thế vị của ông N1 (chị V, anh Đ2 và anh Đ1 - do ông N1 chết năm 2004).
Bản án sơ thẩm không xác định rõ thời điểm mở thừa kế và di sản của từng cụ mà nhập di sản thừa kế, mở thừa kế cùng một thời điểm rồi chia đều cho những người thừa kế là không chính xác. Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở chấp nhận kháng nghị này của VKSND huyện Đông Hưng.
[2.3] Về di sản thừa kế:
[2.3.1] Về đất:
Bà Mai Thị Đ khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Đ3, cụ B để lại là diện tích 193,6m² đất ở tại thửa 413, tờ bản đồ số 07/DC tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình và các tài sản gắn liền với đất. Quá trình xác minh tại giai đoạn sơ thẩm thể hiện: Cụ Đ, cụ B có di sản là thửa đất ở diện tích 271m² tại thửa số 683, tờ bản đồ số 02, bản đồ 299/TTg địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, hiện sổ mục kê UBND xã không còn lưu giữ. Theo sổ mục kê năm 1991 thể hiện: Thửa đất số 619 có diện tích 120m² mang tên bà Mai Thị Đ. Thửa đất số 618 có diện tích 151m² mang tên cụ Mai Đình Đ3. Theo đo đạc năm 2007 (thửa đất số 683 theo bản đồ 299/TTg) gồm 2 thửa đất: Thửa 417 có diện tích 118,2m² mang tên chủ sử dụng bà Mai Thị Đ (loại đất ONT) và thửa đất số 413 có diện tích 193,6m² mang tên chủ sử dụng cụ Văn Thị B (loại đất ONT), tổng diện tích 02 thửa là 311,8m². Tổng diện tích đất tăng lên so với sổ mục kê do UBND xã lập năm 1991 và bản đồ 299/TTg là 40,8m², nguyên nhân diện tích đất tăng là do sai số trong quá trình đo đạc và lấn một phần diện tích đất ao. Theo bản đồ 299/TTg và bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2007 thì trong phần diện tích đất của Đ3, cụ B có phần diện tích ngõ đi nằm trong phần diện tích đất nên trong quá trình giải quyết trên cơ sở đo đạc cần xem xét để trừ đi phần diện tích ngõ đi, không tính vào di sản thừa kế của cụ Đ3, cụ B. Kết quả đo đạc ngày 14/12/2022 thể hiện: Tổng diện tích là 340,5m², tăng lên so với đo đạc năm 2007 của 02 thửa số (413, 417) là 28,7m². Theo đơn vị đo đạc thì phần ngõ đi chung được tính là 20,2m² nên diện tích đất tăng lên là 8,5m², nguyên nhân diện tích đất tăng lên do một phần lấn vào diện tích đất ao và sai số trong quá trình đo đạc.
Bên cạnh đó, UBND xã Đ không nhận được văn bản nào về việc cho tặng, di chúc của cụ Đ3, cụ B cho bà Đ. Bản đồ năm 1991 của UBND xã Đ tự lập trên cơ sở bản đồ 299/TTg là không đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 6 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T5 quy định về hồ sơ địa chính nên không có căn cứ chấp nhận tách thửa của cụ Đ6, cụ B cho bà Đ 120m² và phần diện tích đất này chưa có khuôn viên riêng biệt vẫn nằm chung trong tổng diện tích đất của cụ Đ3, cụ B. Vì vậy, có cơ sở xác định di sản của cụ Đ3, cụ B để lại là diện tích đất ở 271m² tại thừa số 683, tờ bản đồ số 02, bản đồ 299/TTg địa chỉ
thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà Đ về việc xác định phần đất 118,2m² đất (thửa số 417) là của bà Đ đã được các cụ cho, không nằm trong di sản thừa kế của hai cụ.
Đối với kháng cáo của ông K yêu cầu xác định phần đất vườn táo có diện tích 115m² do UBND xã cấp cho 2 cụ theo diện chính sách, bà Đ tự ý đã bán đi, do đó nay xác định di sản của 2 cụ là thửa đất vườn táo này, bà Đ bán đi thì bà Đ phải có trách nhiệm thanh toán cho các thừa kế khác thì thấy: Qua xác minh tại địa phương thì khoảng năm 1987 đến năm 1989 thực hiện chủ trương của Đảng ủy xã về việc cấp đất cho các đối tượng gồm gia đình có công với cách mạng, gia đình đông con, hộ gia đình neo đơn, tuy nhiên địa phương hiện không còn lưu giữ tài liệu nào liên quan đến việc cấp đất cho bà Đ. Phía anh Đ1 là bị đơn có cung cấp 01 bản phô tô ghi danh sách các hộ chia đất vườn táo năm 1989, danh sách này ghi tên bà Đ được chia 115m². Lấy lời khai của một số nhân chứng không thống nhất như: Ông Bùi Thọ L5 – cán bộ địa chính khai: đất vườn táo cấp cho 2 cụ theo diện chính sách; ông Đỗ Văn T3 là người trực tiếp gia dịch mua bán đất từ bà Đ cho bà T2 khai: cấp đất cho bà Đ theo diện đông con. Bà Đ khai: năm 1989 thực hiện chính sách dãn cách xã hội nên bà xin được phần đất vườn táo không liên quan đến gia đình liệt sĩ, sau khi được chia đất bà đã bán cho bà Nguyễn Thị T4 và bà T4 xây dựng nhà ở từ năm 1989 đến nay không có tranh chấp. Các đương sự còn lại đều thừa nhận đất vườn táo cấp cho 2 cụ theo diện chính sách do ông Đ5 là liệt sĩ, sau đó 2 cụ đã họp gia đình thống nhất cho bà Đ và bà Đ là người tiến hành nộp thuế và nhận đất, sau đó bà Đ bán cho bà T4 năm 1989, bà T4 xây dựng nhà từ năm 1989; ông K cũng thừa nhận việc này nhưng sau khi tạm ngừng phiên tòa ông K thay đổi lời khai không công nhận việc gia đình đã cho bà Đ. Xét thấy, thời điểm cấp đất vườn táo vào khoảng năm 1989 khi các cụ còn sống, mặc dù không xác định được cấp cho ai nhưng các đương sự (trừ bà Đ) trước phiên tòa đều có bản tự khai và lời khai thể hiện đất cấp cho hai cụ, hai cụ đã họp gia đình thống nhất cho đất bà Đ và bà Đ là người đi nhận đất, điều này hoàn toàn phù hợp với bản photo danh sách nhận đất vườn táo anh Đ1 giao nộp, mặt khác sau khi nhận đất bà Đ đã bán đất cho bà T4, bà T4 xây dựng nhà ở trên đất vườn táo từ năm 1989 đến nay, thời điểm đó các cụ còn sống không có ý kiến gì, ông K cũng thống
nhất việc này tuy nhiên sau đó ông K thay đổi lời khai nhưng không cung cấp được chứng cứ tài liệu gì. Do đó đủ cơ sở xác định phần đất vườn táo đã được định đoạt xong, không còn là di sản thừa kế của hai cụ do đó kháng cáo này của ông K là không có căn cứ.
Theo bản đồ 299/TTg, đo đạc hiện trạng năm 2007 thì phần diện tích ngõ đi được xác định nằm trong phần đất của cụ Đ3, cụ B có diện tích là 20,2m². Theo đo đạc hiện trạng của Tòa án cấp sơ thẩm ngày 14/12/2022, tổng diện tích là (340,5m² – 20,2m²) = 320,3m². Vì vậy, xác định di sản của cụ Đ3 cụ B để lại diện tích đất ở là 320,3m² để chia cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật.
[2.3.1] Về tài sản trên đất:
Các đương sự trình bày cụ Đ3, cụ B có 01 căn nhà cấp 4 được nhà nước hỗ trợ xây dựng cho gia đình người có công năm 2006. Tuy nhiên, thời điểm này cụ Đ3 đã chết nên xác định đây là di sản của cụ B để lại, bản án sơ thẩm xác định ngôi nhà này là di sản của cụ Đ3, cụ B để lại là không chính xác. Năm 2022, do phần mái nhà đã xuống cấp nên anh Đ1, anh Đ2 và ông K đã tự nguyện đóng góp sửa chữa, lợp lại mái tôn hết khoảng 30.000.000 đồng. Ông K, anh Đ2, anh Đ1 không yêu cầu phải trả lại, không có ý kiến gì về khoản tiền này. Như vậy là ông K, anh Đ7, anh Đ2 đã tự nguyện nhập vào di sản thừa kế. Qua định giá ngôi nhà có giá trị 42.211.588 đồng. Như vậy phải tính di sản là nhà cấp 4 có giá trị là 42.211.588 đồng. Bản án trừ 30.000.000 đồng là công sửa chữa của ông K, anh Đ1, anh Đ2 để xác định giá trị nhà chỉ còn 12.211.288 đồng là chưa chính xác, gây ảnh hưởng đến kỷ phần thừa kế của từng người. Có căn cứ chấp nhận kháng nghị này của VKSND huyện Đông Hưng.
[2.4] Về cách thức chia, giao di sản thừa kế:
[2.4.1] Như phân tích trên, di sản thừa kế mà hai cụ để lại là 320,3m² đất ở, ngoài đất thì cụ B để lại thêm di sản là 01 căn nhà xây năm 2006. Tại biên bản định giá tài sản ngày 13/01/2023 của Hội đồng định giá, tính giá đất bằng khung giá nhân với hệ số điều chỉnh giá đất theo Quyết định của UBND tỉnh T ban hành hệ số điều chỉnh giá đất năm 2022. Tuy nhiên, khi xác định giá trị di sản, bản án sơ thẩm chỉ nhân với giá đất mà không nhân với hệ số điều chỉnh của Hội đồng định giá, làm giảm giá trị di sản, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các đương sự.
Do đó, nội dung kháng nghị này của VKSND huyện Đông Hưng là có căn cứ.
Đối với kháng nghị về diện tích đất được chia không đúng với bản đồ đo đạc kèm theo: Tại phần nhận định của Bản án thì bà Đ được chia là 128,1 m², phần sơ đồ đo đạc kèm theo cũng là 128,1m², nhưng phần quyết định của bản án chỉ giao cho bà Đ 120m². Tuy nhiên, ngày 20/6/2023 Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đã có Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án đính chính nội dung này.
Đối với nội dung kháng nghị: “Phần di sản là diện tích đất nông nghiệp Bản án chưa giải quyết triệt để, mới dừng lại ở phần nhận định là có di sản là đất nông nghiệp nhưng chưa tuyên gì tại phần quyết định”: Trước khi mở phiên tòa các đương sự đều không đề nghị chia di sản gì khác ngoài thửa đất 417, 413 và tài sản trên đất, tuy nhiên tại phiên tòa (căn cứ vào biên bản phiên tòa) người liên quan là ông K đề nghị chia di sản là đất nông nghiệp của hai cụ Đ3 Bướm để lại, tuy nhiên sau khi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải thích thì tất cả các đương sự đều thống nhất không đề nghị giải quyết về đất nông nghiệp của cụ Đ3 và cụ B. Phù hợp với nhận định của Bản án: “Tại phiên tòa ông K yêu cầu chia di sản của cụ Đ3 và cụ B là phần diện tích đất nông nghiệp, các hàng thừa kế đều thống nhất không yêu cầu chia di sản của cụ Đ3, cụ B là đất nông nghiệp mà để lại cho chị Lan A1 sử dụng, ông K cũng nhất trí và không có ý kiến gì khác.” Như vậy phần di sản là đất nông nghiệp các đương sự không yêu cầu chia nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là có căn cứ.
[2.4.2] Cụ Đ3 và cụ B chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của các cụ được chia theo pháp luật.
- Cụ Đ3 chết năm 1993, di sản thừa kế của cụ Đ3 là diện tích 160,15m² đất ở. Hàng thừa kế của cụ G gồm: Cụ B, ông L4, ông N1, bà Đ, ông K và bà D. Do đó, cụ B, ông L4, ông N1, bà Đ, ông K và bà D mỗi người được hưởng một suất thừa kế là 26,69m² đất ở, tương đương với 12.812.000 đồng. Ông L4 chết năm 2007, bà Đ4 (vợ ông L4) chết năm 2020 nên anh L3, anh M, chị L1 và chị Lan A1 mỗi người được hưởng 6,67m² đất ở, tương đương với 3.202.800 đồng. Ông N1 chết năm 2004 nên bà N2, chị V, anh Đ2 và anh Đ1 mỗi người được hưởng 6,67m² đất ở, tương đương với 3.202.800 đồng.
- Cụ B chết năm 2013, di sản thừa kế của cụ B là diện tích 160,15m² +
26,7m² = 186,85m² đất ở và 01 căn nhà xây năm 2006 có giá trị 42.211.588 đồng. Hàng thừa kế của cụ B gồm: Người thừa kế thế vị của ông L4, người thừa kế thế vị của ông N1, bà Đ, ông K và bà D, mỗi người được hưởng 37,37m² đất ở (trị giá 17.937.600 đồng) và 8.442.318 đồng giá trị nhà. Ông L4 chết năm 2007 nên anh L3, anh M, chị L1 và chị Lan A1 (những người thừa kế thế vị của ông L4) mỗi người được hưởng 9,34m² đất ở (trị giá 4.484.400 đồng) và 2.110.580 đồng giá trị nhà. Ông N1 chết năm 2004 nên chị V, anh Đ2 và anh Đ1 (những người thừa kế thế vị của ông N1) mỗi người được hưởng 12,46m² đất ở (trị giá 5.979.200 đồng) và 2.814.106 đồng giá trị nhà.
Như vậy, giá trị di sản các đương sự được hưởng là:
- Anh Vũ Duy H được hưởng khối di sản của bà Đ được hưởng là 39.191.918 đồng;
- Ông K được hưởng phần di sản có giá trị 39.191.918 đồng;
- Bà D được hưởng phần di sản có giá trị 39.191.918 đồng;
- Anh L3 được hưởng phần di sản có giá trị 9.797.780 đồng;
- Anh M được hưởng phần di sản có giá trị 9.797.780 đồng;
- Chị L1 được hưởng phần di sản có giá trị 9.797.780 đồng;
- Chị Lan A1 được hưởng phần di sản có giá trị 9.797.780 đồng;
- Bà N2 được hưởng phần di sản có giá trị 3.202.800 đồng;
- Chị V được hưởng phần di sản có giá trị 11.996.106 đồng;
- Anh Đ2 được hưởng phần di sản có giá trị 11.996.106 đồng;
- Anh Đàn được hưởng phần di sản có giá trị 11.996.106 đồng.
Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chia di sản bằng giá trị cho chị Lan A1 chưa đảm bảo. Chị Lan A1 là người sống cùng cụ Đ3, cụ B tại thửa đất của hai cụ. Chị là người bị bệnh tâm thần được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng. Chị được các đương sự xây 01 nhà riêng 14,5 m² giáp với nhà thờ (Anh L3, anh M, anh Đ2 và anh Đ1 cùng tự nguyện đóng góp xây dựng, không yêu cầu ai phải thanh toán lại số tiền đã xây dựng). Bản thân chị Lan A1 đã ở ổn định tại ngôi nhà này và không đủ năng lực để xây dựng nơi ở khác nên nhu cầu được hưởng di sản bằng hiện vật là rất lớn. Xét thấy di sản của cụ Đ3 và cụ B có thể chia bằng hiện vật thành 03 thửa (đều có lối đi và khuôn viên riêng phù hợp). Ngôi nhà của chị Lan A1 ngoài
việc đi cùng ngõ đi với nhà thờ chung còn giáp đường giao thông khác nên việc giao đất cho chị Lan A1 thuận lợi và cần thiết. Tuy nhiên bản án sơ thẩm không giao hiện vật cho chị là không phù hợp với thực tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của chị. Vì vậy nội dung kháng nghị này là có căn cứ.
[2.4.3] Do bà Đ đã chết, anh H cũng phải đi thuê nhà, không có đất ở; trên đất có nhà thờ chung; Bà N2, anh Đ1, anh Đ2, chị V đều thống nhất giao phần di sản được hưởng cho ông Mai Đình K quản lý để làm nơi thờ cúng. Chị L1 nhường phần di sản mà mình được hưởng cho chị Lan A1 và đề nghị giao đất bằng hiện vật cho chị Lan A1. Hội đồng xét xử thấy cần giữ nguyên việc giao đất và tài sản trên đất như bản án sơ thẩm đã chia nhưng chia một phần đất mà ông K được chia cho chị Lan A1, sửa phần thanh toán giá trị di sản của bản án sơ thẩm là phù hợp, cụ thể:
- Giao cho ông Mai Đình K quản lý, sử dụng diện tích 160,16m² đất ở và các tài sản gắn liền với đất; giao cho anh H được quyền quản lý, sử dụng diện tích 128,12m² đất ở và các tài sản gắn liền với đất mà bà Đ được chia; Giao cho chị Mai Thị Lan A quản lý, sử dụng diện tích 32,04m² đất ở, căn nhà chị Lan A1 đang ở và bể nước.
- Buộc ông K phải thanh toán giá trị di sản cho anh L3, anh M, chị V, bà N2, anh Đ2 và anh Đ1. Cụ thể: Thanh toán cho anh L3 số tiền 9.797.780 đồng; Thanh toán cho anh M số tiền 9.797.780 đồng; Thanh toán cho bà N2 số tiền 3.202.800 đồng; Thanh toán cho chị V số tiền 11.996.106 đồng; Thanh toán cho anh Đ2 số tiền 11.996.106 đồng; Thanh toán cho anh Đ1 số tiền 11.996.106 đồng.
- Buộc anh Vũ Duy H phải thanh toán số tiền 39.191.918 đồng là giá trị di sản cho bà D.
[2.5] Tại giai đoạn phúc thẩm, không đương sự nào giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. Từ những phân tích đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ và ông K, có cơ sở chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Về án phí:
[3.1] Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bà Đ (anh H là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Đ) và ông K không được chấp nhận nhưng ông bà là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[3.2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do án phúc thẩm xác định lại giá trị di sản mà mỗi đương sự được hưởng nên án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại. Bà D, bà Đ (anh H là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Đ) và ông K là người cao tuổi; chị Lan A1 là người khuyết tật nên được miễn án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 24; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
I. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thị Đ về việc đề nghị chấp nhận 118,2m² đất (thửa số 417) là của bà vì cụ Mai Đình Đ3 và cụ Văn Thị B đã cho bà nên không phải là di sản thừa kế của cụ Đ3, cụ B. Di sản thừa kế của cụ Đ3, cụ B là 193,6m² đất (thửa số 413) tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Bà đề nghị chia theo pháp luật đối với 193,6m² đất và bà đề nghị được hưởng bằng hiện vật là đất.
II. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Mai Đình K về việc đề nghị chấp nhận diện tích 115m² đất vườn táo là đất cấp cho đối tượng chính sách liệt sỹ Mai Đình Đ5 là con của cụ Mai Đình Đ3 và cụ Văn Thị B. Bà Mai Thị Đ đã tự ý bán diện tích đất này thì bà Đ phải có trách nhiệm với gia đình. Toàn bộ diện tích 271m² đất đã xây nhà tình nghĩa và làm nơi thờ cúng các cụ nên đề nghị giữ nguyên hiện trạng khuôn viên và không chấp nhận việc chia diện tích đất này.
III. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông
Hưng, tỉnh Thái Bình, sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Cụ thể:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 156, Điều 165, Điều 184, Điều 271, Điều 273 và khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 616, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Mai Thị Đ đối với diện tích 193,6m² đất ở tại thửa 413, tờ bản đồ số 07/DC tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
2. Xử:
2.1. Giao cho ông Mai Đình K được quyền quản lý, sử dụng diện tích 160,16m² đất ở, 01 nhà cấp 4 lợp mái tôn lạnh diện tích 47m² và các tài sản khác gắn liền với đất tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
- Ranh giới phía Đông được xác định từ điểm 6, 7 đến điểm 8 có chiều dài 1,2m + 6,09m = 7,29m giáp ngõ đi chung.
- Ranh giới phía Bắc được xác định từ điểm 1, 2, 23, 24, 25 đến điểm 7 có chiều dài 7,29m + 3,36m + 5,33m + 0,5m + 6,48m = 22,96m giáp đất hộ gia đình ông Phạm Quang B2 và diện tích đất giao cho chị Lan A1.
- Ranh giới phía Tây được xác định từ điểm 1, 22 đến điểm 21 dài 7,78m + 4,65m = 12,43m giáp đất hộ gia đình ông Phạm Quang H1.
- Ranh giới phía Nam được xác định từ điểm 8, 18, 17 đến điểm 21 dài 10,48m + 0,63m + 7,75m = 18,86m giáp ngõ đi chung và diện tích đất giao cho anh Vũ Duy H.
2.2. Giao cho chị Mai Thị Lan A được quyền quản lý, sử dụng diện tích 32,04m² đất ở và các tài sản gắn liền với đất gồm 01 nhà ngang lợp mái tôn lạnh diện tích 14,5m², 01 bể nước tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
- Ranh giới phía Đông được xác định từ điểm 6 đến điểm 7 có chiều dài 1,2m
giáp ngõ đi chung.
- Ranh giới phía Nam được xác định từ điểm 7, 25, 24 đến điểm 23 có chiều dài 6,48m + 0,5m + 5,33m = 12,31m giáp đất giao cho ông Mai Đình K.
- Ranh giới phía Tây được xác định từ điểm 2 đến điểm 23 dài 3,36m giáp phần đất giao cho ông Mai Đình K.
- Ranh giới phía Bắc được xác định từ điểm 2, 3, 4, 5 đến điểm 6 có chiều dài 5,85m + 1,02m + 5,98m + 0,3m = 13,15m giáp đất của ông Phạm Quang B2 và ngõ đi chung.
2.3. Giao cho anh Vũ Duy H (con của bà Mai Thị Đ) được quyền quản lý, sử dụng diện tích 128,12m² đất ở, 01 ngôi nhà cấp 4 lợp mái proximăng diện tích 14m², 01 nhà tắm diện tích 3,5m² và các tài sản khác gắn liền với đất tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình có vị trí, ranh giới mốc giới, cụ thể như sau:
- Ranh giới phía Đông được xác định từ điểm 8, 9, 10 đến điểm 11 có chiều dài 5,13m + 0,98m + 9,21m = 15,32m giáp ngõ đi chung.
- Ranh giới phía Bắc được xác định từ điểm 8 đến điểm 18 có chiều dài 10,48m giáp diện tích đất giao cho ông Mai Đình K.
- Ranh giới phía Tây được xác định từ điểm 12, 13, 14, 15, 16, 17 đến điểm 18 dài 2,26m + 4,71m + 1,77m + 7,04m + 3,04m + 0,63m = 19,45m giáp ngõ đi chung, đất hộ gia đình ông Phạm Quang S và đất giao cho ông Mai Đình K.
- Ranh giới phía Nam được xác định từ điểm 11 đến điểm 12 dài 3,90m giáp phần đất hộ gia đình ông Phạm Quang S.
2.4. Phần vị trí, ranh giới mốc giới ngõ đi chung là 20,2m², cụ thể như sau:
- Ranh giới phía Đông được xác định từ điểm 16 đến điểm 17 có chiều dài 3,04m giáp đất giao cho anh Vũ Duy H.
- Ranh giới phía Bắc được xác định từ điểm 17 đến điểm 21 có chiều dài 7,75m giáp đất giao cho ông Mai Đình K.
- Ranh giới phía Tây được xác định từ điểm 20 đến điểm 21 dài 2,38m giáp ngõ đi chung.
- Ranh giới phía Nam được xác định từ điểm 16, 19 đến điểm 20 dài 4,74m + 3,24m = 7,98m giáp phần đất hộ gia đình ông Phạm Quang S.
(Có sơ đồ cụ thể kèm theo bản án này)
2.5. Buộc ông Mai Đình K phải thanh toán giá trị di sản cho anh L3, anh M, chị V, anh Đ2 và anh Đ1. Cụ thể: Thanh toán cho anh Mai Hồng L3 số tiền 9.797.780 đồng; Thanh toán cho anh M1 Hồng Môn số tiền 9.797.780 đồng; Thanh toán cho chị Mai Thị V số tiền 11.996.106 đồng; Thanh toán cho bà Bùi Thị N số tiền 3.202.800 đồng; Thanh toán cho anh Mai Đình Đ2 số tiền 11.996.106 đồng; Thanh toán cho anh Mai Đình Đ1 số tiền 11.996.106 đồng.
Buộc anh Vũ Duy H phải thanh toán số tiền 39.191.918 đồng là giá trị di sản cho bà Mai Thị D.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho anh Vũ Duy H, bà Bùi Thị N, chị Mai Thị Lan A, bà Mai Thị D và ông Mai Đình K.
- Chị Mai Thị V, anh Mai Đình Đ2 và anh Mai Đình Đ1 mỗi người phải chịu án phí dân sự của phần di sản được hưởng là 600.000 đồng (đã làm tròn).
- Anh Mai Hồng L3 và anh Mai Hồng M mỗi người phải chịu án phí dân sự của phần di sản được hưởng là 490.000 đồng (đã làm tròn).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
II. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho anh Vũ Duy H và ông Mai Đình K.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 16/11/2023.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các Thẩm phán Nguyễn Thị Kim Hằng Vũ Duy Luân |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Vương |
Bản án số 44/2023/DS-PT ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 44/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Thị Đ - Bùi Thị N
