1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Vân Khánh – Hiệu trưởng Trường THCS Tân Bình;
Ông Trần Quang Hoàng – Phó Trưởng phòng, Phòng GĐ-ĐT huyện Tân Thạnh;
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tý và bà Võ Thị Kim N - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Trần Nhật N1, sinh ngày 30/9/2006, tại tỉnh Long An;
Nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Bùi Thị Thúy A; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 120/LC-ĐCSKT-MT ngày 10/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Long An, kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2024 đến ngày 10 tháng 9 năm 2024. (Có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Nhật N1 là: Bà Bùi Thị Thúy A, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo Trần Nhật N1 là: Ông Trần Hải Đ – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L; Địa chỉ: Số B, N, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An. (Có mặt tại phiên tòa)
2
- Nguyễn Đình Q, sinh ngày 27/9/2006, tại tỉnh Long An;
Nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Đang là học sinh; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 27/12/2023, bị UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 750.000 đồng, bị can đã đóng phạt ngày 02/01/2024; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 121/LC-ĐCSKT-MT ngày 10/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Long An, kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2024 đến ngày 10 tháng 9 năm 2024. (Có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đình Q là: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Bà L có mặt tại phiên tòa, ông T vắng mặt)
Đại diện Trường THPT T8 (nơi bị cáo Q đang học): Thầy Phùng Phi L1. (Đề nghị vắng mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Q là: Bà Nguyễn Thị Anh T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L; Địa chỉ: Số B, N, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Bùi Thị Thúy A, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt tại phiên tòa)
- Ông Phùng Tấn T2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt tại phiên tòa)
- Anh Hoàng Quốc H, sinh năm 2003; Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Nguyễn Tấn H1, sinh ngày 01/02/2007; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Tấn H1 là: Ông Nguyễn Phi T3, sinh năm 1968 và bà Cai Thị M, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Ông T3 có mặt tại phiên tòa, bà M vắng mặt)
- Anh Hồ Thiện T4, sinh ngày 18/9/2007; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của anh Hồ Thiện T4 là: Ông Hồ Văn T5, sinh năm 1962 và bà Lê Thị Tuyết T6, sinh năm 1979; Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Ông T5 có mặt tại phiên tòa, bà T6 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản cáo trạng số 41/CT-VKSTT ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xác định: Khoảng 13 giờ ngày 09/01/2024, tại quán C1 thuộc Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Nhật N1 và Nguyễn Đình Q đang tổ chức cho Hồ Thiện T4 sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra xác định được: Trần Nhật N1, sinh ngày 30/9/2006 có quen biết với thanh niên tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) ở huyện C, tỉnh Long An, biết P có sử dụng ma túy loại Cỏ Mỹ, nên N1 hỏi xin P để sử dụng. Đến ngày 05/01/2024, P đưa cho N1 một gói bằng giấy bên trong chứa Cỏ M1 và 01 điếu thuốc chứa Cỏ Mỹ được làm sẵn đã bị hút dở để N1 đem về hút cùng bạn bè.
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 09/01/2024, Trần Nhật N1 đến thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An rủ Nguyễn Đình Q, sinh ngày 27/9/2006 và Hồ Thiện T4, sinh ngày 18/9/2007 đến quán C1 thuộc Khu phố A, thị trấn T, huyện T, do Phùng Tấn T2 làm chủ, để uống nước. Sau đó, Q gọi điện rủ Hoàng Quốc H đến quán để uống nước. Khi vào quán, N1 lấy 01 gói bằng giấy chứa Cỏ Mỹ và 01 điếu thuốc chứa Cỏ Mỹ bên trong ba lô ra. N1 lấy điếu thuốc chứa Cỏ Mỹ để lên bàn mời ai hút được thì hút, còn lại gói bằng giấy chứa Cỏ Mỹ thì N1 cất vào lại ba lô của N1. Sau đó, Q cầm điếu thuốc chứa Cỏ M1 lên mời H hút trước 1-2 hơi, rồi đến T4 hút 1-2 hơi thì hết điếu thuốc chứa Cỏ Mỹ. Khoảng 15 phút sau, Nguyễn Tấn H1, sinh năm 2007, là bạn học của Q, đến quán và ngồi chung bàn với Q, N1, T4, H. N1 hỏi T4 “Hút nữa không”, T4 trả lời “Có”, N1 lấy gói Cỏ M1 đưa cho Q và kêu Q làm điếu Cỏ M1 mới cho T4 tiếp tục hút. Q cầm gói Cỏ Mỹ đổ ra một ít, rồi lấy 01 điếu thuốc lá điếu JET trong gói thuốc do H1 mang đến đang để trên bàn, trút bỏ 1/3 ruột phần đầu của điếu thuốc, Q dùng tay và ống hút nhựa màu trắng từ từ cho Cỏ M1 vào phần đầu điếu thuốc lá đã trút bỏ ruột, lúc này H ra về trước. Khi làm xong, Q đưa điếu thuốc chứa Cỏ M1 cho T4 hút 2-3 hơi hết phần Cỏ Mỹ rồi đưa lại cho Q dụi tắt để trên bàn, thì bị Công an huyện T đến bắt quả tang, thu giữ điếu thuốc mà Q làm cho T4 hút và gói Cỏ Mỹ trong ba lô màu đen của N1, cùng các tang vật khác có liên quan. Quá trình điều tra, Trần Nhật N1 và Nguyễn Đình Q thừa nhận toàn bộ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như trên.
Tại Kết luận giám định số 961/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: 01 túi giấy màu xám chứa thảo mộc khô cắt nhỏ, có rãnh kép viền, là chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA, có khối lượng 1,4147 gam. Không hoàn lại đối tượng giám định do đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Bị can Trần Nhật N1: phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị can N1 phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”.
4
Bị can Nguyễn Đình Q : phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị can Q phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ:
- 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, dài 13,5cm; 01 gói thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, bên trong có 15 điếu thuốc chưa sử dụng; 01 bật lửa bằng nhựa, màu tím - đỏ - trắng, đã qua sử dụng, là các đồ vật, công cụ được sử dụng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không có giá trị sử dụng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu trắng, số IMEI 353888101402304, số IMEI2 353888101437466, bên trong có gắn hai thẻ sim số 0376502692, sim 2 số 0559213649 là tài sản hợp pháp của Trần Nhật N1, không liên quan đến hành vi phạm tội.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, số IMEI 353902100823475, số IMEI 2 353902100981273, bên trong có gắn thẻ sim số 0326070736, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của Nguyễn Đình Q, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh.
Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không đề cập đến.
Trên cơ sở đó, Cáo trạng xác định hành vi của Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q đã phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự với tình tiết “Đối với 02 người trở lên” và tình tiết “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”.
Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
- Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- ...
- Đối với 02 người trở lên;
- Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
- ...".
Bị can Trần Nhật N1 phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị can Nguyễn Đình Q được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
5
Đối với Trần Nhật N1 có hành vi tàng trữ 1,4147 gam thảo mộc khô cắt nhỏ, là chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA, do chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên.
Đối với Hoàng Quốc H, Hồ Thiện T4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên.
Đối với Nguyễn Tấn H1: Quá trình điều tra, H1 khai do được Q rủ đến quán C1 để uống nước, khi đi H1 mang theo một gói thuốc lá điếu hiệu JET. Khi đến quán, H1 để gói thuốc lá điếu trên bàn. Thời điểm Q lấy điếu thuốc từ gói thuốc lá điếu của H1 thì H1 không nhìn thấy lấy từ đâu, của ai, do H1 quay ra ngoài nói chuyện với tiếp viên nữ của quán. Đồng thời, H1 không giúp sức, hỗ trợ gì cho N1 và Q trong quá trình tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của Nguyễn Tấn H1 không đồng phạm với Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đối với Phùng Tấn T2 là chủ quán C1 tại Khu phố A, huyện T, tỉnh Long An không biết việc N1 và Q tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán nên không xem xét, xử lý.
Đối với người tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) là người cho Trần Nhật N1 gói ma túy là Cỏ M1 và 01 điếu Cỏ Mỹ được làm sẵn đang bị hút dở. Trong quá trình điều tra, bị can N1 khai chỉ biết được tên thường gọi là P, không biết rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xác định được nhân thân, lai lịch của P nên không có căn cứ để tách vụ án tiếp tục điều tra theo quy định.
Từ đó, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An đã truy tố các bị cáo Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q ra Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các đương sự trình bày như sau:
+ Các bị cáo Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q thừa nhận hoàn toàn hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
+ Đại diện hợp pháp của các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa giữ nguyên các ý kiến đã nêu trong quá trình điều tra, không có bổ sung gì thêm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo đã gây ra, trên cơ sở cân nhắc đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Từ đó, đã đề nghị Hội đồng xét xử quyết định như sau:
6
- Về Tội danh: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về Hình phạt:
+ Đề nghị áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Nhật N1 từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.
+ Đề nghị áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q từ 06 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh còn đề nghị về xử lý vật chứng và các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Nhật N1 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo N1 như sau: Người bào chữa thống nhất với nội dung Cáo trạng, bị cáo N1 đã nhận tội, nên người bào chữa không có ý kiến gì về tội danh đối với bị cáo N1. Tuy nhiên, về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh đề nghị áp dụng cho bị cáo N1 là chưa phù hợp, mong Hội đồng xét xử xem xét. Bởi vì, bị cáo N1 là người chưa đủ 18 tuổi, bị cáo N1 chỉ kêu bị cáo Q ra Quán C1 để uống nước, chứ không hề có việc kêu bị cáo Q ra để cung cấp ma túy cho người khác sử dụng, nên không thể xem là xúi giục từ trước. Bị cáo N1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn chưa đầy đủ, đề nghị áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt đối với bị cáo N1.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Q phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Q như sau: Bị cáo Q đã thừa nhận hành vi phạm tội, phù hợp với hồ sơ vụ án, nên người bào chữa không tranh luận về tội danh của bị cáo Q. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Q mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh thì người bào chữa cũng thống nhất. Tuy nhiên, người bào chữa thấy rằng bị cáo Q có bà N2 tên là Lê Thị T7 tham gia cách mạng, hưởng chế độ thương binh, nên cần được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Q phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, còn đang là học sinh, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo Q có 02 tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
7
phạt đối với bị cáo Q. Bị cáo Q phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, đề nghị áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cho bị cáo Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử áp dụng đối với các bị cáo, được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có đương sự nào khiếu nại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đều đã được thực hiện hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm và định tội: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q xác định Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Hội đồng xét xử thấy rằng, từ các chứng cứ có trong hồ sơ như: bản tự khai, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với các bị cáo, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với Kết luận giám định số 961/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về các nội dung: Ngày 09/01/2024, tại quán C1 thuộc Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, bị cáo N1 cùng với bị cáo Q có hành vi tổ chức cho anh Hồ Thiện T4 (mới 16 tuổi 03 tháng 22 ngày) và anh Hoàng Quốc H sử dụng trái phép chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA (tên chất ma túy này các bị cáo gọi là Cỏ Mỹ) thì bị Công an huyện T bắt quả tang. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo: Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Đối với 02 người trở lên” và tình tiết “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất và hành vi phạm tội: Các bị cáo Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q đã có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều nhận thức được việc cung cấp ma túy cho người khác sử dụng, sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng, là trái pháp luật, sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vì để thỏa mãn sở thích cá nhân, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc cả 02 bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Trong vụ án này có 02 bị cáo tham gia, nhưng chỉ ở mức độ
8
đồng phạm giản đơn, không có sự tổ chức bàn bạc, phân công, cấu kết chặt chẽ, song cũng cần xem xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo. Trong đó, nguồn gốc ma túy là của bị cáo N1, trong quá trình thực hiện tội phạm chính bị cáo N1 là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Q cùng thực hiện hành vi cung cấp ma túy cho anh T4, anh H sử dụng. Như vậy, vai trò, tính chất của bị cáo N1 trong việc thực hiện tội phạm là cao hơn bị cáo Q, nên bị cáo N1 phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Q.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo N1 có hành vi xúi giục bị cáo Q thực hiện hành vi phạm tội thông qua việc bị cáo N1 đã có lời nói kêu bị cáo Q lấy Ma túy (cỏ Mỹ) đưa cho người khác sử dụng (tại thời điểm thực hiện tội phạm bị cáo Q chưa đủ 18 tuổi) nên bị cáo N1 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Xúi giục người chưa đủ 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là phù hợp như Cáo trạng đã xác định và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Người bào chữa cho bị cáo N1 cho rằng bị cáo N1 chỉ kêu bị cáo Q ra uống nước, không có bàn bạc xúi giục từ trước việc cung cấp ma túy cho người khác sử dụng, nên bị cáo N1 không phải chịu tình tiết tăng nặng nêu trên, ý kiến này của người bào chữa là không phù hợp với nhận định trên, nên không được chấp nhận. Bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo N1, bị cáo Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Người bào chữa của bị cáo Q cho rằng bị cáo Q có bà nội tên Lê Thị T7 tham gia cách mạng hưởng chế độ thương binh, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, lập luận này của người bào chữa cho bị cáo Q là không phù hợp, vì điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nêu “Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ”, bị cáo quý không thuộc các trường hợp này nên không thể hưởng tình tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp này, bị cáo Q có bà nội tên Lê Thị T7 tham gia cách mạng hưởng chế độ thương binh, phạm tội khi còn đang là học sinh lớp 11, chỉ được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà thôi. Do đó, cũng cần cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trên khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[4.3] Về nhân thân: Bị cáo N1 có nhân thân tốt, nhưng bị cáo Q có 01 tiền sự nên được xác định là có nhân thân không tốt.
[5] Về quyết định hình phạt:
[5.1] Đối với bị cáo N1: Từ những phân tích về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo; trên cơ sở cân nhắc các yếu tố về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như: bị cáo N1 phạm tội khi đã trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, có nhân thân tốt, có 01 tình tiết giảm nhẹ theo
9
điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng có 01 tình tiết tăng nặng theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và cũng là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Q cùng cung cấp ma túy cho người khác sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng nguyên tắc xử lý, mức phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N1 bằng hình phạt tù có thời hạn theo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhưng chỉ ở mức thấp nhất, cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm phòng ngừa chung loại tội phạm nguy hiểm này trong xã hội. (Trường hợp này nếu bị cáo N1 khi phạm tội đã đủ 18 tuổi trở lên thì mức hình phạt phải từ 09 năm tù đến 10 năm tù mới tương xứng).
[5.2] Đối với bị cáo Q: Từ những phân tích về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo; trên cơ sở cân nhắc các yếu tố về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như: bị cáo Q phạm tội khi đã trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, có 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không tình tiết tăng nặng, nhưng có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử thấy Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng nguyên tắc xử lý, mức phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự cần xử phạt bị cáo Q bằng hình phạt tù có thời hạn thấp hơn mức phạt tù của bị cáo N1, theo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhưng ở mức thấp hơn, cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm phòng ngừa chung loại tội phạm nguy hiểm này trong xã hội. (Trường hợp này nếu bị cáo Q khi phạm tội đã đủ 18 tuổi trở lên thì mức hình phạt phải từ 07 năm tù đến 08 năm tù mới tương xứng)
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không đề cập đến.
[9] Về xử lý vật chứng:
[9.1] Đối với vật chứng là: 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, dài 13,5cm; 01 gói thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, bên trong có 15 điếu thuốc chưa sử dụng; 01 bật lửa bằng nhựa, màu tím - đỏ - trắng, đã qua sử dụng, là các đồ vật, công cụ được sử dụng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[9.2] Đối với vật chứng là: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu trắng, số IMEI 353888101402304, số IMEI2 353888101437466, bên trong có gắn hai thẻ sim số 0376502692, sim 2 số 0559213649 là tài sản hợp pháp của bị cáo N1, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo N1.
[9.3] Đối với vật chứng là: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, số IMEI 353902100823475, số IMEI 2 353902100981273, bên trong có gắn thẻ sim số 0326070736, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Q, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo Q.
10
[10] Đối với hành vi tàng trữ 1,4147 gam thảo mộc khô cắt nhỏ, là chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA của bị cáo Trần Nhật N1, qua điều tra xác định chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh không có đề nghị xem xét trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Đối với anh Hoàng Quốc H, anh Hồ Thiện T4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh không có đề nghị xem xét trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Đối với anh Nguyễn Tấn H1: Quá trình điều tra, xác định anh H1 không giúp sức, hỗ trợ gì cho bị cáo N1 và bị cáo Q trong quá trình tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện Kiểm sát nhân dân huyện T xác định hành vi của anh H1 không đồng phạm với bị cáo N1, bị cáo Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự, không đề nghị xem xét trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[13] Anh Phùng Tấn T2 là chủ quán C1 tại Khu phố A, huyện T, tỉnh Long An. Quá trình điều tra, xác định anh T2 không biết việc bị cáo N1 và bị cáo Q tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh không có đề nghị xem xét trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[14] Đối với người tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) là người cho bị cáo N1 gói ma túy là Cỏ M1 và 01 điếu Cỏ Mỹ được làm sẵn đã được sử dụng 01 phần. Trong quá trình điều tra, bị can N1 khai chỉ biết được tên thường gọi là P, không biết rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xác định được nhân thân, lai lịch của P nên không có căn cứ để tách vụ án tiếp tục điều tra theo quy định. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh không có đề nghị xem xét trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì các bị cáo Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mức án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải nộp là 200.000₫ sung Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về áp dụng điều luật và hình phạt:
- Áp dụng quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Nhật N1 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Áp dụng quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, dài 13,5cm; 01 gói thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, bên trong có 15 điếu thuốc chưa sử dụng; 01 bật lửa bằng nhựa, màu tím - đỏ - trắng, đã qua sử dụng.
- Hoàn trả lại cho bị cáo N1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu trắng, số IMEI 353888101402304, số IMEI2 353888101437466, bên trong có gắn hai thẻ sim số 0376502692, sim 2 số 0559213649.
- Hoàn trả lại bị cáo Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, số IMEI 353902100823475, số IMEI 2 353902100981273, bên trong có gắn thẻ sim số 0326070736, đã qua sử dụng.
- Các vật chứng này hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 31/QĐ-VKSTT ngày 15/7/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh.
- Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Nhật N1, Nguyễn Đình Q mỗi người nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.
- Về quyền và thời hạn kháng cáo:
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
12
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về vụ án hình sự
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nam, bị cáo Quý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy khi chưa đủ 18 tuổi
