Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-8--2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Xuân Trường
  • 2/ Bà Hoàng Thị Kim Oanh

Thư ký phiên toà: Ông Thân Văn Đông-Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy- Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, tranh chấp con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXX ST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tạ Thị T, sinh năm 1995(có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1995(có mặt)

Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 22/4/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai tại phiên tòa nguyên đơn chị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L. Sau khi kết hôn chị về nhà anh D làm dâu và chung sống cùng gia đình chồng. Hai vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2020 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do anh D thường xuyên đi chơi về khuya, báo nợ về cho gia đình. Chị và anh D sống ly thân từ tháng 04/2022 đến nay. Từ khi ly thân hai bên không còn quan tâm chăm sóc nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Tiến M, sinh ngày 11/02/2018. Hiện tại con chung đang ở cùng chị, chị và anh D không thoả thuận được về việc nuôi con. Nguyện vọng của chị mong muốn được tiếp tục nuôi con chung và chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Chị đang làm ở công ty H thu nhập từ 8 đến 10 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung và không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:

Anh và chị T kết hôn ngày 15/8/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối tháng 4/2022 thì xảy ra mâu thuẫn, lý do mâu thuẫn là do không hợp nhau. Anh thừa nhận trước đây anh có chơi bời nhưng nay anh đã thay đổi không chơi nữa. Nay chị T làm đơn ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là Nguyễn Tiến M sinh ngày 11/02/2018, hiện con chung đang sống cùng chị T. Ly hôn nguyện vọng của anh được nuôi con chung và anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Hiện nay, anh đang làm tại công ty M1 thu nhập 18 triệu/1 tháng.

Về tài sản chung, công nợ chung: anh và chị T không có, không yêu cầu giải quyết.

Kết quả xác minh tại địa phương: Bà Đoàn Thị Đ – trưởng thôn Giữa, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang trình bày:

Anh Duy và chị T kết hôn ngày 15/8/2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã L theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Kết hôn xong, chị T về gia đình anh D làm dâu. Ban đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc và có 01 con chung. Đến năm 2022, do anh D ham chơi bời, cờ bạc nợ nần nhiều dẫn tới vợ chồng đánh cãi nhau. Ngoài ra, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Sau khi mâu thuẫn, chị T về nhà mẹ đẻ ở cho tới nay. Hai gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng vợ chồng không đoàn tụ được. Nay xác định các bên không thể hàn gắn và đoàn tụ được nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Tiến M, sinh ngày 11/02/2008, chị T đang nuôi dưỡng. Từ khi chị T bỏ về không mang con về nhà anh D bao giờ. Anh D hiện tại đang đi làm công ty, mức lương 8-10 triệu/ tháng nhưng ăn chơi cờ bạc hết. Chị T bỏ về quê làm gì địa phương không rõ. Nay ly hôn địa phương đề nghị để chị T tiếp tục nuôi con chung là phù hợp và đảm bảo quyền lợi cho con chung.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định.

Đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Các Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị T.

Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Tiến M, sinh ngày 11/02/2018. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Chị Tạ Thị T phải chịu 150.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng án phó theo biên lai biên lai án phí, lệ phí Tòa án số 0003934 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Hoàn trả chị T 150.000đồng tạm ứng án phí đã nộp.

Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự được biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Xét đơn khởi kiện và yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa của nguyên đơn chị Tạ Thị T xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sựAnh Duy có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang theo quy định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị T và anh D kết hôn ngày 15/8/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì xác định được trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh D thường xuyên đi chơi khuya, cơ bạc, nợ nần. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 04/2022 cho đến nay, không còn quan hệ tình cảm, không còn chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T và anh D đã thỏa thuận thuận tình ly hôn nên cần căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn của của các đương sự

[3] Về con chung:

Chị T và anh D có 01 con chung là Nguyễn Tiến M, sinh ngày 11/02/2018. Hiện nay, con chung đang sinh sống cùng chị T. Ly hôn, chị T và anh D đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyên vọng được nuôi dưỡng con chung của chị T và anh D đều chính đáng và cả hai bên đều đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, con chung hiện còn nhỏ, cần được sự chăm sóc trực tiếp từ mẹ. Từ khi chị T và anh D ly thân thì con chung vẫn ở cùng chị T và phát triển bình thường. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cũng như sự phát triển toàn diện cho con chung thì cần giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất, ruộng đất và các quan hệ khác:

chị T và anh D cùng xác định vợ chồng không có liên quan và không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí:

Chị T và anh D đã thỏa thuận thuận tình ly hôn nên phải chịu 50% mức án phí quy định nhưng chị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí nên cần chấp nhận. Hoàn trả chị T số tiền 150.000đồng tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Tiến M, sinh ngày 11/02/2018. Anh D có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Tạ Thị T phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003934 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Hoàn trả chị T số tiền 150.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát ND H.Hiệp Hòa;
  • - Chi cục THA DS H. Hiệp Hòa;
  • - Ủy ban nhân dân xã Lương Phong;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Đào Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị Tạ Thị T và anh Nguyễn Văn D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger