Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 441/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 16 - 7 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.
  • Các Hội thẩm nhân dân.
    • Ông Lý Khắc Chung;
    • Ông Nguyễn Hoàng Tuấn.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 212/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Diễm K, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. (Xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc P, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2024 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Đỗ Thị Diễm K trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Quốc P tự tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang năm 2021. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, ông P không lo làm ăn, thường hay uống rượu đánh đập bà nhiều lần, ham chơi cờ bạc, đá gà, hút chích, không quan tâm vợ con, bà đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng ông P không sửa đổi, mâu thuẫn càng trầm trọng hơn, vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn được nên bà K xin ly hôn với ông P.

- Về con chung: Bà và ông P chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 01/9/2021 hiện do bà K nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Ly hôn bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc P, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông P vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông P.

Tại phiên toà:

  • Bà K có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Ông P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà K và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà K yêu cầu ly hôn với ông P là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Bà và ông P chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 01/9/2021 hiện do bà K nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Ly hôn bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Xét, cháu N đang ở với bà K ổn định, bà K có nguyện vọng muốn nuôi con chung nên đề nghị giao cháu N cho bà K nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà K không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Quốc P thường trú tại xã K, huyện C. Bà K khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà K và ông P do tự tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào năm 2021 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, ông P không phụ giúp vợ lo kinh tế gia đình, chăm lo cho các con, thường hay uống rượu, cờ bạc, hút chích, không quan tâm vợ con, bà đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng ông P không sửa đổi, mâu thuẫn càng trầm trọng hơn, vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Vợ chồng không còn tình cảm, không thể hàn gắn được nên bà K xin ly hôn với ông P. Xét, bà K và ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến ly thân hơn 01 năm, trong thời gian ly thân vợ chồng đã không tự hàn gắn được, bà K không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, Toà án đã tiến hành hoà giải nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành do ông P đều vắng mặt và bà K kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng giữa bà K và ông P đã không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, đã sống ly thân 08 năm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà K.

Về con chung: Bà K và ông P chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 01/9/2021 hiện do bà K nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Ly hôn bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Xét, cháu N đang ở với bà K do bà K chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, bà K có nguyện vọng muốn tiếp tục nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử giao N cho bà K được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 80 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà K không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

Bà K phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 80; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Diễm K.

  • - Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị Diễm K được ly hôn với ông Nguyễn Quốc P.
  • - Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 01/9/2021 cho bà Đỗ Thị Diễm K được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Quốc P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà K cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về án phí:

Bà Đỗ Thị Diễm K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005566 ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

  • - Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Ngọc Mỹ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 441/2024/HNGĐ - ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 441/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y hôn, nuôi con chung (Kiều - Phú)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger