Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn La

Ông Đồng Văn Diện

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Tuấn Sơn L. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam. Sinh năm 1995;

Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Họ và tên bố: Liễu Văn H, sinh năm 1974; Họ và tên mẹ: Lê Thị H1, sinh năm 1977; gia đình có 02 anh, chị em, bản thân là thứ nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 167/QĐ-XPHC ngày 31/12/2023 của Công an huyện L đối với Lê Tuấn Sơn L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân: Tại Bản án số 17/2017/HSST ngày 28/03/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Lê Tuấn Sơn L 04 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 01/01/2020, chấp hành xong án phí ngày 11/5/2017.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Thị N. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nữ. Sinh năm 1994;

Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Họ và tên bố: Lê Quý Đ, đã chết; Họ và tên mẹ: Đoàn Thị Đ1, đã chết; Chồng: Đinh Văn H2, sinh năm 1993; Con: chưa có; Tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 169/QĐ-XPHC ngày 31/12/2023 của Công an huyện L đối với Lê Thị N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.

-Bị hại:

  1. Anh Bành Văn Q, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

  3. Cháu Trần Đỗ Phương L1, sinh năm 2006 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Dương Văn L2, sinh năm 1966 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang,

  3. Anh Vũ Văn K, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Tổ dân phố số 3, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  5. Anh Hà Văn N1, sinh năm 2003 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn Tân Phúc, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

  7. Anh Phạm Văn C, sinh năm 1977 (vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện L, Bắc Giang;

  9. Anh Trần Đăng Đ2, sinh năm 1981(vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện L, Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Tuấn Sơn L, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng SơnLê Thị N, sinh năm 1994, trú tại thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh có quan hệ tình cảm và sống chung với nhau như vợ chồng. Để có tiền cùng chi tiêu cá nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024 LN đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện L và Y, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng giữa tháng 12 năm 2023, L làm thuê cho anh Trần Đăng Đ2, sinh năm 1981, ở thôn Đ, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh Đ2 thuê cho L một phòng trọ tại khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị Hồng Q1, sinh năm 1960, ở tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang và cho L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 29R3-2092 để đi lại phục vụ công việc. Khoảng 14 giờ ngày 29/12/2023, khi LN đang ở khu trọ, L quan sát thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 12H1-358.65 của

anh Bành Văn Q, sinh năm 1979, ở thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đang để ở khu vực nhà xe của phòng trọ, không có người trông coi nên đã bảo N đi ra xem chiếc xe mô tô này có chìa khóa không thì trộm cắp. N đi ra vị trí xe kiểm tra rồi quay lại nói với L là xe không có chìa khóa và đang khóa cổ. Sau đó, L đi ra ngồi lên yên chiếc xe mô tô của anh Q, dùng tay phải cầm tay lái bên phải, chân trái đạp lên tay cầm bên trái rồi đạp mạnh nhiều lần theo chiều kim đồng hồ thì bẻ được khóa cổ xe. L bảo N dắt chiếc xe ra ngoài đường trước, còn L sẽ dùng chiếc xe anh Đ2 cho mình đi sau. N dắt chiếc xe ra khỏi cổng khoảng 2-3 mét thì có một nam thanh niên không quen biết tưởng xe bị hết xăng nên có giúp N đẩy xe đến cây xăng rồi người này đi trước. N đứng chờ ở đây một lúc thì thấy L điều khiển xe mô tô đến và dùng chân tiếp tục đẩy chiếc xe trộm cắp đến cửa hàng thu mua sắt vụn của ông Dương Văn L2 bán chiếc xe trộm cắp được cho ông L2 với giá 900.000 đồng. Số tiền này LN đã cùng chi tiêu hết.

Ngày 29/12/2023, sau khi phát hiện chiếc xe mô tô của mình bị trộm cắp anh Bành Văn Q đã có đơn trình báo đến Công an thị trấn K, huyện L.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện L kết luận: Giá trị của 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a; màu xanh đen bạc; loại 110CC; biển kiểm soát 12H1-358.65; đăng ký lần đầu ngày 01/10/2019; cũ đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 29/12/2023 có giá là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 16/01/2024, sau khi ngủ ở nhà nghỉ T thuộc thị trấn B, huyện Y dậy, LN cùng rủ nhau đi đến chùa B thuộc tổ dân phố G, thị trấn B, huyện Y chơi. Tại đây, L thấy có một nhóm học sinh để xe mô tô ở sân chùa không có ai trông coi, L nảy sinh ý định trộm cắp 01 chiếc xe mô tô để lấy tiền chi tiêu cá nhân. L bảo N ra xem có xe nào còn cắm chìa khóa xe không, N đồng ý, đến gần chỗ để xe thì phát hiện chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98AL-017.62 của cháu Trần Đỗ Phương L1, sinh năm 2006 ở thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện. N quay lại báo cho L biết rồi cả hai ra vị trí chiếc xe mô tô trên, L dắt xe lùi lại khoảng 02 mét rồi quay đầu xe và ngồi lên yên xe, mở khóa điện, đề nổ máy chở N đến nhà anh Vũ Văn K để đặt chiếc xe mô tô vừa trộm cắp làm tin, vay anh K số tiền 1.000.000 đồng. Số tiền này LN cùng nhau sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 17/01/2024, cháu Trần Đỗ Phương L1 có đơn trình báo đến Công an thị trấn B về việc bị trộm cắp xe mô tô.

Cùng ngày 17/01/2024, anh Vũ Văn K đã giao nộp cho Công an thị trấn B xe mô tô biển kiểm soát 98AL-017.62.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI, số loại: VT WAVES E3, biển kiểm soát 98AL-017.62 tại thời điểm định giá ngày 16/01/2024 là 6.200.000 đồng.

Ngày 16/01/2024, LN đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú về hành vi phạm tội của mình, đồng thời L giao nộp 01 chiếc điện thoại

Nokia đen trắng, có số Seri: 356819634485034 được lắp số thuê bao: 0878.330.770 và 0392.037.712.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Tuấn Sơn LLê Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố các bị cáo Lê Tuấn Sơn LLê Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lê Tuấn Sơn L 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lê Thị N từ 10 (mười) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý trách nhiệm dân sự, tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; các bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo L xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo N không có ý kiến gì.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét

xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024, Lê Tuấn Sơn LLê Thị N đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện L và huyện Y, tỉnh Bắc Giang, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Hồi 14 giờ ngày 29/12/2023, tại khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị Hồng Q1, sinh năm 1960, ở tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, LN trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu xanh đen bạc, biển số 12H1-358.65 trị giá 10.000.000 đồng của anh Bành Văn Q.

Vụ thứ hai: Hồi 15 giờ ngày 16/01/2024, tại sân chùa B thuộc tổ dân phố G, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, LN đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI Waves E3, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98AL-017.62 trị giá 6.200.000 đồng của cháu Trần Đỗ Phương L1.

Tổng giá trị tài sản Lê Tuấn Sơn LLê Thị N trộm cắp là 16.200.000 đồng.

Hành vi của Lê Tuấn Sơn LLê Thị N đủ yếu tố cấu thành của tội “Trộm cắp tài sản”, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Việc các bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản nhằm phục vụ cho bản thân. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục các bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Xét về tính chất vụ án, vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có đồng

phạm giản đơn. Bị cáo Lê Tuấn Sơn L là người chủ động rủ rê lôi kéo Lê Thị N cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mục đích để lấy tiền ăn tiêu nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò chính thứ nhất trong vụ án, bị cáo Lê Thị N có hành vi giúp sức tích cực giữ vai trò sau bị cáo L.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, riêng bị cáo L có nhân thân xấu năm 2017 bị xử phạt 04 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em” nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên cần áp dụng hình phạt cao hơn bị cáo N, cần buộc các bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Do các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên HĐXX miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo, để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm có điều kiện trở về làm ăn lương thiện.

Do hiện nay các bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam các bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Cháu Trần Đỗ Phương L1 đã nhận lại tài sản chiếc xe, cháu L1 không yêu cầu LN bồi thường gì nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh Bành Văn Q yêu cầu LN phải bồi thường trị giá chiếc xe mô tô số tiền là 10.000.000 đồng, anh Vũ Văn K yêu cầu LN phải hoàn trả số tiền cắm xe là 1.000.000 đồng. Anh Hà Văn N1 yêu cầu Lê Tuấn Sơn LLê Thị N bồi thường số tiền 1.200.000 đồng.

Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 2 Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc các bị cáo mỗi người phải bồi thường ½ giá trị thiệt hại cho anh Bành Văn Q, anh Vũ Văn K và anh Hà Văn N1 số tiền trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 29R3-2092 do anh Trần Đăng Đ2 cho L để đi lại làm việc, L đã bán cho anh Phạm Văn C, sinh năm 1977 ở thôn C, xã Q, L, Bắc Giang, anh C đã tháo các bộ phận của xe để bán sắt vụn hết nên không thu giữ được, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngày 17/01/2024, anh Phạm Văn C, tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, màu trắng đỏ đen, biển số 12D1-059.14. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản LN chiếm đoạt được tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn do cơ quan CSĐT – Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đang thụ lý điều tra về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng giao lại chiếc xe mô tô trên cho cơ quan CSĐT – Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử lý theo quy định của pháp luật, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI, số loại: VT WAVES E3, biển kiểm soát 98AL-017.62 là của cháu Trần Đỗ Phương L1. Ngày 08/4/2024, Cơ

quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả trả lại chiếc xe trên cho cháu L1, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với chiếc điện thoại N2 đen trắng, có số Seri: 356819634485034 được lắp số thuê bao: 0878.330.770 và 0392.037.712 do L giao nộp là của L không liên quan đến hành vi phạm tội nay cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ điện thoại để đảm bảo thi hành án.

Đối với anh Vũ Văn K nhận chiếc xe mô tô làm tin để cho LN vay tiền nhưng không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không xử lý, HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lê Tuấn Sơn LLê Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 305.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của các bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo, xử lý trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Xử phạt Lê Tuấn Sơn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử phạt Lê Thị N 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 2 Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Lê Tuấn Sơn L phải bồi thường cho anh Bành Văn Q số tiền là 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng), hoàn trả cho anh Vũ Văn K số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), bồi thường cho anh Hà Văn N1 số tiền là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Lê Thị N phải bồi thường cho anh Bành Văn Q số tiền là 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng), hoàn trả cho anh Vũ Văn K số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), bồi thường cho anh Hà Văn N1 số tiền là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  1. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Trả lại Lê Tuấn Sơn L một chiếc điện thoại N2 đen trắng, có số Seri: 356819634485034 được lắp số thuê bao: 0878.330.770 và 0392.037.712, nhưng tạm giữ điện thoại để đảm bảo thi hành án.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  4. Buộc các bị cáo Lê Tuấn Sơn LLê Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 305.000 đồng ( Ba trăm linh năm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  6. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -VKSND, CA, Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng TTĐT Tòa án;
  • -Bị cáo;
  • -UBND nơi bị cáo cư trú;
  • -Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (theft of property)

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Tuấn S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger