Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HSST

Ngày 16 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ An Quản

Ông Nguyễn Văn Quyết

Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Na - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thủy - K sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024; đối với bị cáo:

Lê Văn K, sinh năm 1991; ĐKHKTT và trú tại: số A Đồng Niên, phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Tr, sinh năm 1964 và Lý Thị V, sinh năm 1967; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 72/2019/HSST ngày 04/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2020, nộp án phí ngày 09/7/2019).

Biện pháp ngăn chặn: Bị bắt tạm giữ ngày 15/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Việt H và anh Trần Văn L; Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00' ngày 15/12/2023, Lê Văn K đi bộ ra khu vực đường Điện Biên Phủ, thành phố Hải Dương mục đích tìm mua ma túy đá để sử dụng.

Tại đây, K gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá với số tiền 300.000đồng. Sau khi mua được ma túy, K cầm trên tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 25' cùng ngày, khi K đi đến khu vực trước cửa số nhà 202 Điện Biên Phủ, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Dương phát hiện bắt quả tang; thu giữ trong lòng bàn tay trái của K 01 túi nilon màu trắng, có kích thước khoảng (1x1,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng, trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Việt Hùng và anh Trần Văn Lâm.

Tại Bản kết luận giám định số 02/KL-KTHS ngày 17/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương:

Chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Văn K, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,338 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Biên bản xét nghiệm phát hiện chất ma túy trong nước tiểu ngày 15/12/2023 tại Công an thành phố Hải Dương đối với Lê Văn K xác định: dương tính (trong nước tiểu có chất ma túy) Methamphetamine.

Sau khi giám định hoàn lại mẫu vật là 0,240gam Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSTPHD ngày 18/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Lê Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Lê Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Hải Dương. Xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Lê Văn K từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/12/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,240 gam Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội. Bị cáo Lê Văn K phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Văn K không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, K sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Lê Văn K tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 25', ngày 15/12/2023 tại khu vực trước cửa số nhà 202 Điện Biên Phủ, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Lê Văn K đã có hành vi cất giấu trái phép 0,338gam Methamphetamine trong lòng bàn tay trái mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Lê Văn K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện có tác hại không chỉ cho sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội, việc bị cáo Lê Văn K đã có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,338gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với khối lượng và hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, xác định Viện K sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố đối với Lê Văn K về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn K là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[3] Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Về nhân thân: Lê Văn K đã bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy . Về tình tiết tăng nặng: không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Văn K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cần thiết xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Lê Văn K tàng trữ ma túy số lượng ít, với mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,338gam Methamphetamine thu giữ của Lê Văn K. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại mẫu vật 0,240gam Methamphetamine, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ và 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Văn K bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với người bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn K không rõ họ, tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về trách nhiệm hình sự:
    • - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Văn K 17 (Mười bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/12/2023.
    • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 0,240gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 02/KL-KTHS, Công an tỉnh Hải Dương.

    (Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/3/2024 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).

  4. Về án phí: Bị cáo Lê Văn K phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND TP Hải Dương;
  • - CQTHAHS - Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ - Công an TP Hải Dương;
  • - CQCSĐT-Công an TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;
  • - CQTHAHS-Công an TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam-CA tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HSST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Kiểm bị truy tố và xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger