Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/DS-ST

Ngày 15 tháng 8 năm 2023

V/v Tranh chấp dân sự, về chấm dứt

hành vi cản trở việc thực hiện

quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Bằng;
  2. Ông Nguyễn Thanh Trang.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2018 về: “Tranh chấp dân sự, về chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2023/QĐXXST-DS ngày 26/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2023/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2023; giữa:

Nguyên đơn: Ông Tống Phước P, sinh năm 1988 và bà Phú Thị Thùy D, sinh năm 1995, cùng địa chỉ nơi cư trú: số E, quốc lộ I, ấp A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang; bà Phú Thị Thùy D do ông P diện ủy quyền theo văn bản ủy quyền số công chứng 002422, quyển số 04/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03 tháng 4 năm 2023.

Bị đơn: Ông Giang Văn C, sinh năm 1979 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1955, cùng địa chỉ nơi cư trú: số A, đường T, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Ông P có mặt; ông C, bà H vắng mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, đồng nguyên đơn ông Tống Phước P và bà Phú Thị Thùy D cùng trình bày: Ngày 19 tháng 5 năm 2020 ông P, bà D có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất số BC533202, thửa số 166, tờ bản đồ số 12, diện tích 63,1m², đất tọa lạc tại hẻm A đường T, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH05889aE cấp ngày 11/5/2011 do ông Lê Đình Đ đứng tên quyền sử dụng. Do mốc ranh bị mất nên ông P, bà D đăng ký phục hồi lại mốc ranh đất, để xây dựng nhà, đến ngày 24/4/2022 cán bộ đo đạc phục hồi mốc ranh và bàn giao cho ông P, bà D gồm 07 mốc ranh; ông Giang Văn C cho rằng cấm mốc ranh lấn lên hẻm công cộng, nên ông C, bà H cản trở việc ông, bà cấm mốc ranh để xây dựng nhà. Nay, ông P, bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông C, bà H chấm dứt hành vi ngăn cản việc ông P, bà D thực hiện quyền sử dụng đất;

Ông Giang Văn C cho rằng: Ông P, bà D cấm mốc ranh lấn vào hẻm công cộng, nên nhổ bỏ. Tuy nhiên, ông C đồng ý cho ông P, bà D phục hồi mốc ranh phải đúng với diện tích đất mà ông P, bà D đã được cấp quyền sử dụng đất; Ngoài ra, ông P xác định ông với bà H ngăn cản ông P, bởi trước đây khi cấp đất cho ông P không ai ký vào biên bản tứ cận xác định mốc ranh đất cho ông P (biên bản ngày 01/7/2022).

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa,

Ông P, bà D yêu cầu Tòa án buộc ông C, bà H chấm dứt hành vi ngăn cản trở việc ông và bà D thực hiện quyền sử dụng đất.

Tòa án công bố lời khai của ông Giang Văn C;

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

      Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự (gọi tắt là BLTTDS). Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 BLTTDS năm 2015.

    • Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa:

      Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

  2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

    Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:

Ông P, bà D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Lê Đình Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH05889aE ngày 11/5/2011. Việc chuyển nhượng được thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Do vậy, ông P, bà D có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ sử dụng thửa đất đã được cấp theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai Việc bà H, ông C đã có hành vi cản trở ông P, bà D trong việc thực hiện quyền sử dụng đất hợp pháp là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P, bà D được quy định tại Điều 12 Luật đất đai 2013. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn ông P, bà D về việc buộc bà H, ông C chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng của ông P, bà D theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN CH05889aE ngày 11/5/2011 là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 169 Bộ Luật dân sự 2015nên có cơ sở chấp nhận;

Đối với việc ông C cho rằng ông P, bà D phục hồi mốc ranh lấn vào hẻm công cộng. Xét thấy, tại bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 14/3/2022, do Công ty TNHH Đ1 đã thể hiện thửa đất số 275, diện tích 100,1m² thuộc quyền sử dụng của bà bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với đất của ông P, bà D là hẻm T. Do đó, trường hợp ông C, bà H có tranh chấp lối đi chung, sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác nếu có yêu cầu.

Căn cứ các Điều 12, 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 169, 175 Bộ luật dân sự 2015, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng,

[1] Ông P, bà D khởi kiện yêu cầu bà H, ông C chấm dứt hành vi cản trở ông, bà thực hiện quyền sử dụng đất. Đất tranh chấp tọa lạc phường C, thành phố C. Xét đây là tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền sử dụng đất tại phường C, thành phố C, các bên đương sự đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời bị đơn cư trú tại địa bàn thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Về nội dung,

[2] Ông P, bà D khởi kiện yêu cầu bà H, ông C chấm dứt hành vi cản trở ông, bà thực hiện quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận. Ông C xác định có cùng bà H cản trở, nguyên nhân do ông P, bà D khi tiến hành phục hồi mốc ranh lấn chiếm con hẻm công cộng;

[3] Về nguồn gốc đất mà ông Tống Phước P, bà Phú Thị Thùy D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo hồ sơ thể hiện: Thủ tục xin cấp quyền sử dụng đất do ông Lê Trường N thực hiện, sau đó đến ông Lê Đình Đ đứng tên quyền sử dụng đất; ông P nhận chuyển nhượng lại từ ông Lê Đình Đ, theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Phòng C1, chứng chứng thực ngày 19/02/2020;

Xét thấy, quá trình cấp quyền sử dụng đất cho ông Lê Trường N, hồ sơ thể hiện: Biên bản kê khai hiện trạng nhà và đất biên bản giao mốc ranh giới sử dụng đất; xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà (có xác nhận của UBND phường; Phòng Quản lý phát triển đô thị; đơn đăng ký-xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà được ký xác nhận không tranh chấp; Hồ sơ kỹ thuật khu đất có các hộ chứng kiến cấm mốc ranh gồm: Trần Thị L, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D1, Vương Trung L1 (được UBND phường C và Phòng Quản lý phát triển đô thị xác nhận ngày 27/3/2003); hồ sơ khống chế và đo vẽ chi tiết (đo lập hồ sơ kỹ thuật khu đất) được Phòng Quản lý phát triển đô thị công nhận ngày 29/4/2003; theo đó phần đất được cấp như sơ đồ kỹ thuật và suốt quá trình ông N và ông Đ sử dụng; bà H và ông C không có ý kiến gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho đến khi ông Lê Đình Đ đã chuyển nhượng sang tên quyền sử dụng cho ông P, bà D và ông P, bà D thực hiện quyền sử dụng đất, thì ông C, bà H ngăn cản. Tại bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 14/3/2022, do Công ty TNHH Đ1 đã thể hiện phù hợp với hồ sở kỹ thuật khu đất mà bà H; ông P, bà D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời, tại biên bản đối chất được Tòa án ghi nhận ngày 05 tháng 4 năm 2023: Ông Giang Văn C và ông Tống Phước P xác nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho bà H và cấp cho ông P, bà D đúng quy định; hơn nữa tại biên bản ngày 05/4/2023: “Ông Giang Văn C đồng ý việc ông P, bà D được phục hồi mốc ranh đúng theo diện tích đất mà ông P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; đồng thời, ông C xác định không có yêu cầu phản tố hay khởi kiện (nếu phản tố hay khởi kiện sẽ gửi trước khi Tòa án hòa giải và xét xử);

Tại khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai 2013 quy định quyền chung của người sử dụng đất như sau: Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

Điều 169 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.

Từ các căn cứ cùng quy định của pháp luật như đã viện dẫn nêu trên, thấy rằng việc nguyên đơn ông P, bà D khởi kiện là có căn cứ, xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn là phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 12, 166, 203 Luật Đất đai 2013; Điều 169 và Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

D.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tống Phước P và bà Phú Thị Thùy

    Buộc bà Đinh Thị H, ông Giang Văn C phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật về thực hiện quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Tống Phước P và bà Phú Thị Thùy D tại thửa số 166, tờ bản đồ 12 tại phường C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN CH058892 do UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang cấp ngày 11 tháng 5 năm 2011.

  2. Về án phí:
    • - Hoàn trả cho ông Tống Phước P, bà Phú Thị Thùy D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số TU/2016/0002862 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc;
    • - Bà Đinh Thị H, ông Giang Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông P, bà D có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

    Riêng thời hạn kháng cáo của ông C, bà H vắng mặt phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh;
  • - VKSND TP.Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP Châu Đốc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2023/DS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự, về chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 44/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự, về chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc Đinh Thị H, Giang Văn C chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật về thực hiện quyền sử dụng đất hợp pháp của ông P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger