|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/DSST
Ngày: 15/7/2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh
Ông Nguyễn Ngọc Hấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hạnh Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 160/2023/TLST-DS ngày 29/11/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QĐST-DS ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (S); Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Đại diện theo ủy quyền: Bà Lã Thị H - Chức vụ: Phó Giám đốc Khối xử lý nợ (Theo giấy ủy quyền số 469/2023/UQ-SeABank ngày 18/7/2023 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Đ); Bà Lã Thị H ủy quyền cho ông Lê Văn H1 và ông Nguyễn Duy A (Theo Giấy ủy quyền số 20677/2022/UQ-SeABank ngày 01/12/20222). ( Ông H1 có mặt).
Bị đơn: Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: Số G phố H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. (Ông T1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2022 và các lời khai tại Toà án, đại diện nguyên đơn trình bày:
Ông Lê Thanh T1 vay vốn tại S theo các Hợp đồng tín dụng có nội dung cụ thể như sau:
Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1833900064/HDTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 05/12/2018, phụ lục hợp đồng số PL01/REF1833900064/HĐTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 05/12/2018 cùng giấy nhận nợ ( Sau đây gọi tắt là HĐTD ký ngày 05/12/2018), có nội dung chính như sau:
Số tiền vay: 760.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua ô tô; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9.69%/năm, mức lãi suất cho vay được thay cố định trong vòng 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân. Lãi suất hiện tại là 15.39%/năm; Lãi suất quá hạn: Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với số tiền gốc. Lãi suất chậm trả = 10%/năm, được áp dụng đối với nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 06/12/2018 S đã giải ngân cho ông Lê Thanh T1 số tiền là: 760.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm sáu mươi triệu đồng).
Hợp đồng tín dụng từng lần số REF18334400539/HDTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 11/12/2018 số PL01/REF2834400539/HĐTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 11/12/2018, phụ lục hợp đồng số PL01/REF2834400539/HĐTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 11/12/2018 cùng giấy nhận nợ ( Sau đây gọi tắt là HĐTD ký ngày 11/12/2018), có nội dung chính như sau:
Số tiền vay: 686.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua ô tô; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất cho vay Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9.69%/năm, mức lãi suất cho vay được thay cố định trong vòng 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân. Lãi suất hiện tại là 15.39%/năm; Lãi suất quá hạn: Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với số tiền gốc. Lãi suất chậm trả = 10%/năm, được áp dụng đối với nợ lãi chậm trả. Thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 12/12/2018 S đã giải ngân cho ông Lê Thanh T1 số tiền là: 686.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi sáu triệu đồng).
Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 04/12/2018 ( sau đây gọi là HĐ thẻ TD ký ngày 04/12/2018), có nội dung chính như sau:
Hạn mức cấp: 81.000.000 đồng; Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 12 tháng. Thực hiện Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng, S đã cấp hạn mức cho ông Lê Thanh T1 với số tiền là: 81.000.000 đồng (Bằng chữ: T2 mươi mốt triệu đồng).
Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 10/12/2018 ( sau đây gọi là HĐ thẻ TD ký ngày 10/12/2018), có nội dung chính như sau:
Hạn mức cấp: 51.000.000 đồng; Mục đích: Tiêu dùng; Thời hạn: 12 tháng. Thực hiện Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng, S đã cấp hạn mức cho ông Lê Thanh T1 với số tiền là: 51.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi mốt triệu đồng).
Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 12/12/2021 ( sau đây gọi là HĐ thẻ TD ký ngày 12/12/2021), có nội dung như sau:
Hạn mức cấp: 30.000.000 đồng; Mục đích: Tiêu dùng; Thời hạn: 12 tháng. Thực hiện Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng, S đã cấp hạn mức cho ông Lê Thanh T1 với số tiền là: 30.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi mốt triệu đồng).
Tài sản bảo đảm ( gọi tắt là TSĐB) cho toàn bộ khoản vay:
TSBĐ 01: 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại RANGER, màu sơn đỏ cam;
- Số khung: MNCUMFF60KW897028, số máy: YN2QW897028, BKS: 29H – 152.81; Giấy đăng ký xe số: 524738 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 05/12/2018; Giá trị tài sản bảo đảm tại thời điểm phát vay: 918.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp ô tô số REF1833900064/HDTC/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 05/12/2018 giữa S và ông Lê Thanh T1.
TSBĐ 02: 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, số loại COLORADO, màu sơn đen; Số khung: MMM148PM0KH628978, số máy: LP2G182491021, BKS: 29H – 155.34; Giấy đăng ký xe số: 525110 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 11/12/2018; Giá trị tài sản bảo đảm tại thời điểm phát vay: 819.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp ô tô số REF1834400539/HDTC/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 11/12/2018 giữa S và ông Lê Thanh T1.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Lê Thanh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho S. S đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông Lê Thanh T1 trả nợ nhưng ông Lê Thanh T1 vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng.
Ngày 2/7/2024, S đã có đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Thanh T1 do thay đổi thông tin và dư nợ về các khoản thẻ mà ông Lê Thanh T1 đã ký kết với S. Tại thời điểm khởi kiện, S khởi kiện yêu cầu ông Lê Thanh T1 phải thanh toán cho S 03 khoản thẻ là 81.000.000 đồng; 51.000.000 đồng và 30.000.000 đồng. Đến nay đối với khoản thẻ 81.000.000 đồng không còn dư nợ quá hạn tại S và S đã đóng khoản thẻ này. Khoản thẻ 30.000.000 đồng là khoản thẻ ông Lê Thanh T1 trả góp trong hạn mức của khoản thẻ 81.000.000 đồng. Hiện nay, ông Lê Thanh T1 còn quá hạn tại S các khoản thẻ: Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng ký ngày 04/12/2018 với hạn mức là: 81.000.000 đồng và Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng kỳ ngày 10/12/2018 với hạn mức là: 51.000.000 đồng.
Tạm tính đến ngày 26/6/2024, dư nợ của ông Lê Thanh T1 tại S là: 3.360.685.108 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.576.936.942 đồng, N lãi trong hạn: 660.404.608 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.123.343.558 đồng. Cụ thể đối với từng hợp đồng tín dụng:
Đối với HĐTD ký ngày 05/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 1.537.390.715 đồng, trong đó: Nợ gốc: 759.999.942 đồng, nợ lãi trong hạn: 344.051.853 đồng, nợ lãi quá hạn: 433.338.920 đồng.
Đối với HĐTD ký ngày 11/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 1.385.567.311 đồng, trong đó: Nợ gốc: 686.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 309.155.846 đồng, nợ lãi quá hạn: 390.411.465 đồng.
Đối với HĐ thẻ TD ký ngày 04/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 264.386.648 đồng, trong đó: Nợ gốc: 80.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 3.215.437 đồng, nợ lãi quá hạn: 181.171.211 đồng.
Đối với HĐ thẻ TD ký ngày 10/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 173.340.434 đồng, trong đó: Nợ gốc: 51.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 3.981.472 đồng, nợ lãi quá hạn: 118.421.962đồng.
Yêu cầu Tòa án giải quyết:
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của S, S kính đề nghị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thụ lý vụ án và xem xét giải quyết các yêu cầu sau:
- Buộc ông Lê Thanh T1 thanh toán cho S khoản nợ theo HĐTD ký ngày 05/12/2018; HĐTD ký ngày 11/12/2018; HĐTD ký ngày 11/12/2018 và HĐ thẻ TD ký ngày 10/12/2018, tạm tính đến ngày 05/6/2024 là: 3.334.504.841 đồng. Bao gồm: 1.581.428.499 đồng nợ gốc; 650.609.823 đồng nợ lãi trong hạn và 1.102.466.519 đồng nợ lãi quá hạn.
- Buộc ông Lê Thanh T1 phải tiếp tục trả nợ cho S số tiền nợ lãi, phạt, phí phát sinh theo lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn quy định tại tín dụng nói trên cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày Q định/Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Lê Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì S có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại, bán/chuyển nhượng 02 tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi nợ là:
* Bị đơn là ông Lê Thanh T1: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng của Tòa án cho ông T1 theo quy định của pháp luật, nhưng ông T1 không đến Tòa án, không trình bày ý kiến của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không giao nộp các tài liệu, chứng cứ cho Toà án.
* Tại phiên tòa:
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện. Đề nghị Toà án buộc ông Lê Thanh
T1 phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến ngày 15/7/2024 là: 3.382.990.312 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.584.133.851 đồng; Nợ lãi trong hạn: 655.512.361 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.143.344.200 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Bị đơn phải chịu án phí.
Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn: Đã được Toà án triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lí do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tại phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, vi phạm thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Ông Lê Thanh T1 vắng mặt, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, Thông báo, Quyết định hợp lệ. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1, tại phiên tòa lần 2 ông T1 vẫn vắng mặt không có lí do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thời hiệu giải quyết vụ án: Vụ án vẫn còn thời hiệu.
Về nội dung vụ án: Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa ông T1 và Ngân hàng S là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của luật các tổ chức tín dụng do đó có hiệu lực thi hành đối với các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết theo hợp đồng đã ký nên Ngân hàng S đã có đơn khởi kiện yêu cầu sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện ông T1 trả nợ số tiền nợ gốc, nợ lãi là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[I]. Về thủ tục tố tụng:
1. Về thẩm quyền giải quyết,về quan hệ pháp luật:
Ngân hàng S khởi kiện ông Lê Thanh T1, có hộ khẩu thường trú: Số G phố H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội, yêu cầu Tòa án tuyên ông Lê Thanh T1 phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký giữa S và ông Lê Thanh T1. Tòa án nhân dân
quận Hoàn Kiếm thụ lý vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm (gọi tắt là BLTTDS năm 2015).
3. Về thời hiện khởi kiện:
Ngân hàng S và ông Lê Thanh T1 ký các Hợp đồng tín dụng. Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 15/1/2019 chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Ngày 01/12/2022 Ngân hàng S có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm. Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, vụ án còn thời hiệu khởi kiện.
4. Về thủ tục tố tụng:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình xác minh tại công an phường H cung cấp: “Ông Lê Thanh T1, đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Ông Lê Thanh T1 không ăn ở, sinh hoạt thường xuyên tại địa chỉ trên từ năm 2009. Hiện tại ông Lê Thanh T1 ăn ở, sinh hoạt tại LP3029 Vinhomes C 720a Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh”. Tại công văn phúc đáp của công an phường B cho biết tại địa chỉ nói trên không có ai tên là Lê Thanh T1.
Việc bị đơn đã chuyển đi nơi khác, không thông báo với công an phường địa chỉ nơi cũng không thông báo nơi cư trú mới cho nguyên đơn là thuộc trường hợp “cố tình giấu địa chỉ” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của của BLTTDS năm 2015, và xác định địa chỉ: Số G phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội là địa chỉ cư trú cuối cùng của ông T1 theo quy định tại khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 Điều 192 của của BLTTDS năm 2015.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các Thông báo, Quyết định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để triệu tập đương sự nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do tại tất cả các buổi làm việc của Toà án.
Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn vắng mặt 02 lần không có lí do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ và đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của BLTTDS năm 2015.
5. Ngân hàng S thay đổi sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện về việc: Ngày 2/7/2024, S đã có đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Thanh T1 do thay đổi thông tin và dư nợ về các khoản thẻ mà ông Lê Thanh T1 đã ký kết với S. Tại thời điểm khởi kiện, S khởi kiện yêu cầu ông Lê Thanh T1 phải thanh toán cho S 03 khoản thẻ là 81.000.000 đồng; 51.000.000 đồng và 30.000.000 đồng. Đến nay đối với khoản thẻ 81.000.000 đồng không còn dư nợ quá hạn tại S và S đã đóng khoản thẻ này. Khoản thẻ 30.000.000 đồng là khoản thẻ ông Lê Thanh T1 trả góp trong hạn mức của khoản thẻ 81.000.000 đồng. Hiện nay, ông Lê Thanh T1 còn quá hạn tại S các khoản thẻ: Hợp đồng
hạn mức thẻ tín dụng ký ngày 04/12/2018 với hạn mức là: 81.000.000 đồng và Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng ký ngày 10/12/2018 với hạn mức là: 51.000.000 đồng. Xét thấy, Ngân hàng S rút một phần yêu cầu khởi kiện này là tự nguyện, căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện đã rút.
[II]. Về nội dung vụ án:
1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông T1 phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi theo các Hợp đồng tín dụng đã kí kết:
Xét, HĐTD từng lần số REF1833900064/HDTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 05/12/2018, phụ lục hợp đồng và giấy nhận nợ, có nội dung chính như sau:
Số tiền vay: 760.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua ô tô; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9.69%/năm, mức lãi suất cho vay được thay cố định trong vòng 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân. Lãi suất quá hạn: Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với số tiền gốc. Lãi suất chậm trả = 10%/năm, được áp dụng đối với nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 06/12/2018 S đã giải ngân cho ông Lê Thanh T1 số tiền là: 760.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm sáu mươi triệu đồng). Hiện đang áp dụng lãi suất là 14.29%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 đã trả được: Nợ gốc: 58 đồng; nợ lãi: 6.717.174 đồng.
Xét, HĐTD từng lần số REF18334400539/HDTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 11/12/2018, phụ lục hợp đồng và giấy nhận nợ, có nội dung chính như sau:
Số tiền vay: 686.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua ô tô; Thời hạn vay: 84 tháng; Lãi suất cho vay Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9.69%/năm, mức lãi suất cho vay được thay cố định trong vòng 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân. Lãi suất quá hạn: Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn và được áp dụng đối với số tiền gốc. Lãi suất chậm trả = 10%/năm, được áp dụng đối với nợ lãi chậm trả. Thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 12/12/2018 S đã giải ngân cho ông Lê Thanh T1 số tiền là: 686.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi sáu triệu đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 đã trả được: Nợ gốc: 0 đồng; nợ lãi: 6.057.356 đồng. Hiện đang áp dụng lãi suất là 14.29%/năm.
Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng ký ngày 04/12/2018, có nội dung chính như sau:
Hạn mức cấp: 80.000.000 đồng; Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 12 tháng. Thực hiện Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng, S đã bàn giao cho ông T1 một thẻ tín dụng với hạn mức: 80.000.000 đồng (Bằng chữ: Tám mươi triệu đồng). Quá trình sử dụng thẻ tín dụng: ông T1 đã trả được: Nợ gốc: 0 đồng; Nợ lãi: 1.466.321 đồng. Hiện đang áp dụng lãi suất là 30%/năm.
Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng ký ngày 10/12/2018, có nội dung chính như sau:
Hạn mức cấp: 51.000.000 đồng; Mục đích: Tiêu dùng; Thời hạn: 12 tháng. Thực hiện Hợp đồng hạn mức thẻ tín dụng, S đã bàn giao cho ông T1 một thẻ tín dụng với hạn mức: 51.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi mốt triệu đồng). Quá trình sử dụng thẻ tín dụng: ông T1 đã trả được: Nợ gốc: 0 đồng; Nợ lãi: 947.910 đồng. Hiện đang áp dụng lãi suất là 30%/năm.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Lê Thanh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho S.
Tạm tính đến ngày 26/6/2024, dư nợ của ông Lê Thanh T1 tại S là: 3.360.685.108 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.576.936.942 đồng, N lãi trong hạn: 660.404.608 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.123.343.558 đồng. Cụ thể đối với từng hợp đồng tín dụng như sau:
Đối với HĐTD ký ngày 05/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 1.537.390.715 đồng, trong đó: Nợ gốc: 759.999.942 đồng, nợ lãi trong hạn: 344.051.853 đồng, nợ lãi quá hạn: 433.338.920 đồng.
Đối với HĐTD ký ngày 11/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 1.385.567.311 đồng, trong đó: Nợ gốc: 686.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 309.155.846 đồng, nợ lãi quá hạn: 390.411.465 đồng.
Đối với HĐ thẻ TD ký ngày 04/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 264.386.648 đồng, trong đó: Nợ gốc: 80.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 3.215.437 đồng, nợ lãi quá hạn: 181.171.211 đồng.
Đối với HĐ thẻ TD ký ngày 10/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 173.340.434 đồng, trong đó: Nợ gốc: 51.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 3.981.472 đồng, nợ lãi quá hạn: 118.421.962đồng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn không có mặt, không có lời khai liên quan đến tranh chấp mà Ngân hàng đang khởi kiện. Tuy nhiên, từ những tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy việc ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, đúng chủ thể tham gia ký kết các Hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng và giấy nhận nợ nên Hợp đồng tín dụng trên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Công thức tính lãi trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn x dư nợ gốc trong hạn x số ngày tính lãi/ 365; Công thức tính lãi quá hạn: Lãi suất quá hạn x dư nợ gốc quá hạn x số ngày tính lãi/365; Công thức tĩnh lãi chậm trả lãi: 10% x số tiền chậm trả x số ngày chậm trả lãi/365 (lãi suất quá hạn = 150% lãi suất cho vay trong hạn).
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác nhận số nhận toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi chậm trả đã được tính đúng như theo các Hợp đồng tín dụng, phụ lục Hợp đồng, các giấy nhận nợ đã ký kết; Đối với các Hợp đồng thẻ tín dụng, áp dụng theo Quy định về sản phẩm thẻ dành cho khách hàng cá nhân tại ngân hàng S số 2412/2021/QĐ- TGĐ ngày 26/02/2021.
Sự thoả thuận về lãi suất của các đương sự là phù hợp với Điều 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư 39/2016 ngày 30/12/2016; Quyết định số 1425/QĐ – NHNN ngày 07/7/2017 của Ngân hàng N1 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam; Điều 7, 8 ,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất và Điều 468 BLDS 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối chiếu với khoản nợ gốc, nợ lãi ông T1 đã trả, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Lê Thanh T1 phải trả nợ cho S toàn bộ nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn đối với các Hợp đồng tín dụng đã kí kết nêu trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì vậy, xác định đến ngày 15/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm), ông Lê Thanh T1 còn nợ ngân hàng S theo các Hợp đồng tín dụng nói trên số tiền: 3.382.990.312 đồng. Bao gồm: Nợ gốc: 1.584.133.851 đồng; Nợ lãi trong hạn: 655.512.261 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.143.344.200 đồng.
Ngân hàng S yêu cầu ông Lê Thanh T1 tiếp tục phải thanh toán khoản lãi phát sinh của số tiền nợ gốc trên và lãi chậm trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng và các giấy nhận nợ đã ký giữa hai bên kể từ ngày tiếp ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 16/7/2024) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
2. Xét yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ:
Để đảm bảo cho các hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Lê Thanh T3 đã thế chấp 02 tài sản đảm bảo sau:
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, số loại COLORADO; Số khung: MMM148PM0KH628978, số máy: LP2G182491021, BKS: 29H – 155.34 theo Giấy đăng ký xe số ô tô 525110 do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 11/12/2018 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF1834400539/HĐTC/NGUYENHUUHUAN-LTT ngày 11/12/2018, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 06/12/2018 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng.
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại RANGER; Số khung: MNCUMFF60KW897028, số máy: YN2QW897028, BKS: 29H – 152.81 theo Giấy đăng ký xe số ô tô 524738 do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 05/12/2018 theo Hợp đồng thế chấp ô tô số: REF1833900064/HDTC/NGUYENHUUHUAN-LTT ngày 05/12/2018, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 12/12/2018 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng.
Tại điểm a khoản 1 Điều 1 về Nghĩa vụ được bảo đảm và điểm a, b khoản 1 Điều 7 về Xử lý tài sản thế chấp của Hợp đồng thế chấp nêu trên quy định: “1. Bên thế chấp ...... dùng toàn bộ giá trị tài sản này để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ dân sự của
Bên thế chấp, đồng thời là Bên vay vốn ...... đối với S phát sinh trước, tại hoặc sau thời điểm ký Hợp đồng này bao gồm, nhưng không giới hạn trong: a) Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay (nợ gốc), lãi vay, lãi quá hạn, các khoản phạt chậm trả, phạt vì phạm, chi phí xử lý tài sản thế chấp, các khoản chi phí và phải trả khác của Bên thế chấp theo Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1834400539/HDTD/NGUYENHUUHUAN- LTT ký ngày 11 tháng 12 năm 2018; Đơn Đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 03/12/2018 và các Hợp đồng tín dụng văn bản thỏa thuận tín dụng khác ký giữa Bên thế chấp và S trong khoảng thời gian từ ngày 11/12/2018đến ngày 11/12/2028; “1. Các trường hợp xử lý tài sản thế chấp: a) Khi đến thời hạn trả nợ (kể cả trường hợp phải trả nợ trước hạn) theo các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và/hoặc các văn bản liên quan khác mà Bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì S được quyền xử lý một phần hoặc toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ; b) Khi Bên thế chấp vi phạm bất kỳ một cam kết hay nghĩa vụ nào theo Hợp đồng này hoặc quy định pháp luật có liên quan và không khắc phục vi phạm trong thời hạn quy định trong văn bản thông báo của S, S có quyền xử lý một phần hoặc toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ”.
Xét, Hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan có thẩm quyền, do đó hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.
Phòng C Công an Thành phố H có văn bản phúc đáp chiếc chủ của hai chiếc xe trên là ông Lê Thanh T1, Hộ khẩu thường trú: Số G phố H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án đã yêu cầu các bên đương sự xuất trình các chứng cứ, vị trí chiếc xe để Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, tuy nhiên các đương sự không xuất trình. Ngân hàng không biết 02 chiếc xe ô tô trên hiện đang ở đâu và cũng không rõ hiện trạng của 02 chiếc xe, không được bị đơn thông báo cho ai thuê, mướn, mượn. Do đó, các bên đương sự hoàn toàn chịu trách nhiệm về tình trạng của chiếc xe.
Việc ông Lê Thanh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán là cơ sở để Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý 02 tài sản bảo đảm. Yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản đảm bảo nói trên để thu hồi toàn bộ số tiền nợ khi ông Lê Thanh T1 vi phạm nghĩa vụ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
2. Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm:
Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị đơn ông Lê Thanh T1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Nguyên đơn Ngân hàng S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 71; Điều 72; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 117; Điều 117; Điều 119; Điều 149; Điều 223; Điều 280; Điều 299; Điều 303; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 323; Điều 351; Điều 357; Điều 385;Điều 400; Điều 401;Điều 429; Điều 166; Điều 468 - Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm d khoản 1.4 Điều 1 Mục II - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo;
Xử:
I. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của S về việc: Không yêu cầu yêu cầu ông Lê Thanh T1 phải trả khoản thẻ 30.000.000 theo Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 10/12/2018.
II. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (S) đối với ông Lê Thanh T1.
1. Buộc ông Lê Thanh T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (S) khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1833900064/HDTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 05/12/2018 và phụ lục hợp đồng, giấy nhận nợ; Hợp đồng tín dụng từng lần số REF18334400539/HDTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 11/12/2018 và phụ lục hợp đồng, giấy nhận nợ; Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 04/12/2018 và ngày 10/12/2018, tạm tính đến ngày 15/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là: 3.382.990.312 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.584.133.851 đồng; Nợ lãi trong hạn: 655.512.261 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.143.344.200 đồng.
Cụ thể đối với từng hợp đồng tín dụng như sau:
Hợp đồng tín dụng từng lần số REF1833900064/HDTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 05/12/2018, phụ lục hợp đồng số PL01/REF1833900064/HĐTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 05/12/2018 cùng giấy nhận nợ: 1.537.390.715 đồng, trong đó: Nợ gốc: 759.999.942 đồng, nợ lãi trong hạn: 344.051.853 đồng, nợ lãi quá hạn: 433.338.920 đồng.
Hợp đồng tín dụng từng lần số REF18334400539/HDTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 11/12/2018, phụ lục hợp đồng số PL01/REF2834400539/HĐTD/NGUYENHUUHUAN-LTT ký ngày 11/12/2018 cùng giấy nhận nợ còn nợ tổng số tiền: 1.385.567.311 đồng, trong đó: Nợ gốc: 686.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 309.155.846 đồng, nợ lãi quá hạn: 390.411.465 đồng.
Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 04/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 264.386.648 đồng, trong đó: Nợ gốc: 80.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 3.215.437 đồng, nợ lãi quá hạn: 181.171.211 đồng.
Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 10/12/2018 còn nợ tổng số tiền: 173.340.434 đồng, trong đó: Nợ gốc: 51.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 3.981.472 đồng, nợ lãi quá hạn: 118.421.962đồng.
Ông Lê Thanh T1 tiếp tục phải thanh toán khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng, các giấy nhận nợ đã ký giữa hai bên kể từ ngày kế tiếp ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 16/7/2024) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
2. Trường hợp ông Lê Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì S được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại hai tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Cụ thể gồm:
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, số loại COLORADO; Số khung: MMM148PM0KH628978, số máy: LP2G182491021, BKS: 29H – 155.34 theo Giấy đăng ký xe số ô tô 525110 do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 11/12/2018 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF1834400539/HĐTC/NGUYENHUUHUAN-LTT ngày 11/12/2018, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 06/12/2018 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng.
- - 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại RANGER; Số khung: MNCUMFF60KW897028, số máy: YN2QW897028, BKS: 29H – 152.81 theo Giấy đăng ký xe số ô tô 524738 do Phòng C - Công an thành phố H cấp ngày 05/12/2018 theo Hợp đồng thế chấp ô tô số : REF1833900064/HDTC/NGUYENHUUHUAN-LTT ngày 05/12/2018, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 12/12/2018 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng.
Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ, thì ông Lê Thanh T1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Thanh T1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 99.712.000 đồng (Bằng chữ: Chín mươi chín triệu, bảy trăm mười hai nghìn đồng).
Ngân hàng S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 43.288.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi ba triệu hai trăm tám mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số: 0006099 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt: Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng S. Vắng mặt bị đơn: Ông Lê Thanh T1. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Lan Hương |
Bản án số 44/2024/DSST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 44/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Đ và ông T1
