TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 15-7-2024 | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đỗ Hải Hà. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Lam |
| Ông Nguyễn Hồng Diện |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Đức S, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1963 tại huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hữu Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); có vợ là Phạm Thị T và có 02 con; Tiền án: không; Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 25/01/2024 bị Công an thị trấn V, B, Hà Giang xử phạt số tiền 1.500.000₫ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00250/QĐ-XPHC; Nhân thân: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/04/2024 đến ngày 15/05/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại tại tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện tại: Tổ B, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. (vắng mặt)
- Ông Dương Phúc Q1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ B, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. (vắng mặt)
- Người làm chứng: ông Phạm Ngọc A, sinh năm 1965; nơi ĐKHKTT: thôn L, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên; đăng ký tạm trú: thôn X, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện tại: Tổ B, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 10 giờ 03 phút ngày 08/4/2024 Phạm Ngọc A lấy điện thoại di động có gắn sim số thuê bao 0965.395.641 (là điện thoại Anh mượn của Lê Thị H1, H1 không biết Anh mượn điện thoại để đi hỏi mua ma túy) gọi điện thoại đến số thuê bao 0945.241.963 của Vũ Đức S hỏi "có đồ không bán cho em một con ba trăm", ý là hỏi Sinh có ma túy không, bán cho Anh một gói ma túy với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), S đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày Phạm Ngọc A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen - bạc - đỏ, biển kiểm soát 23H6-8877 (xe mô tô Anh mượn của Dương Phúc Q1, Q1 không biết A mượn xe để đi mua ma túy) đến nhà Vũ Đức S tại tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Khi đến cách nhà S khoảng 50m, Anh dựng xe cạnh đường rồi đi bộ đến nhà S, vào ngồi tại bàn uống nước bên tay trái gian ngoài để xe của gia đình S (hướng từ bên ngoài đi vào trong), Anh hỏi mua ma túy rồi đưa cho S số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền Việt Nam đồng gồm 01 (một) tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), S cầm lấy tiền và lấy trong túi quần bên phải đưa cho Anh 01 (một) gói giấy màu trắng, có chữ màu đen, bên trong có gói giấy màu vàng (dạng giấy bạc) chứa chất bột màu trắng nghi ma túy Heroine, A cầm gói ma túy đi về rồi ra vị trí để xe mô tô gần trường Tiểu học N thuộc tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang thì bị tổ công tác Công an huyện B kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang, Anh khai nhận số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang là mua của Vũ Đức S tại tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Vũ Đức S tại tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang, quá trình khám xét Sinh tự nguyện giao nộp 04 (bốn) gói giấy, dạng giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine, số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền Việt Nam đồng và 01 (một) điện thoại di động, loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu xanh lá cây đã qua sử dụng. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang Vũ Đức S khai nhận số ma túy bán cho Phạm Ngọc A ngày 08/4/2024 và số ma túy Sinh tự nguyện giao nộp tại nhà S là mua từ Đào Trọng T1, sinh năm 1960, trú tại tổ F, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (qua xác minh Đào Trọng T1 đã chết ngày 03/3/2024) với số tiền 3.000.000₫ (ba triệu đồng) vào thời gian hơn một tháng trước khi bị Cơ quan Công an phát hiện (ngày 08/4/2024). Sau khi mua ma túy từ T1 về Sinh chia nhỏ số ma túy rồi cất ở nhà S, Phạm Ngọc A là người đầu tiên Sinh bán ma túy cho, ngoài ra S chưa bán cho ai khác. Mục đích S mua ma túy về là để sử dụng và bán khi có người hỏi mua.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Phạm Ngọc A và Vũ Đức S là dương tính với chất ma túy Heroine.
Kết quả cân tịnh:
- 01 (một) gói giấy màu trắng, có chữ màu đen, bên trong gói giấy có 01 (một) gói giấy màu vàng (dạng giấy bạc), bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy Heroine thu giữ được của Phạm Ngọc A, ký hiệu A có khối lượng 0,077gam.
- 04 (bốn) gói giấy màu vàng (dạng giấy bạc), ký hiệu A1, A2, A3, A4 bên trong có chất bột màu trắng, nghi là ma túy Heroine. Mẫu ký hiệu A1 có khối lượng 0,057 gam; mẫu ký hiệu A2 có khối lượng 0,063 gam; mẫu giấy ký hiệu A3 có khối lượng 0,054 gam; gói giấy ký hiệu A4 có khối lượng 0,061 gam.
- Tổng khối lượng số chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine (ký hiệu A1, A2, A3, A4) thu giữ của Vũ Đức S là 0,235gam.
Ngày 16/4/2024 Phòng K Công an tỉnh H có kết luận giám định số 146/KL-KTHS kết luận:
- 01 (một) mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng là 0,077g (không phẩy không trăm bảy mươi bảy gam).
- 04 (bốn) mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4 đều là ma túy, loại Heroin (H), có tổng khối lượng là 0,235g (không phẩy hai trăm ba mươi lăm gam).
Heroin (heroine) có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Ngày 08/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) thu giữ được của Vũ Đức S là tiền thật hay tiền giả. Ngày 12/4/2024 Phòng K Công an tỉnh H kết luận số 147/KL-KTHS kết luận 02 tờ tiền Việt Nam gửi giám định là tiền thật.
Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 38/CT-VKSBQ ngày 17/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Vũ Đức S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Vũ Đức S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Vũ Đức S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Về điều luật và hình phạt: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vũ Đức S từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu, tiêu hủy: 03 phong bì màu trắng, niêm phong kín; Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh lá cây thu giữ của bị cáo, T2 lại cho bà Lê Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen. Về án phí, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội. Bị cáo lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với cộng đồng và người thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, điều tra viên, kiểm sát viên của huyện B trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Phúc Q1 và người làm chứng Phạm Ngọc A vắng mặt không có lý do nhưng họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Đức S tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét người, chỗ ở của Vũ Đức S; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu; biên bản, sơ đồ và bản ảnh xác định hiện trường; các kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh H, các biên bản làm việc về nội dung kiểm tra điện thoại cùng tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 08/4/2024, Vũ Đức S có hành vi bán 01 (một) gói ma túy (loại heroine) có khối lượng 0,077 gam (không phẩy không trăm bảy mươi bảy gam) với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) cho Phạm Ngọc A tại nhà S ở tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Khối lượng ma túy Cơ quan CSĐT Công an huyện B thu giữ khi khám xét người, nơi ở của S do Sinh tự nguyện giao nộp 0,235 gam (không phẩy hai trăm ba mươi lăm gam) ma túy heroine, số ma túy trên do S mua về mục đích để sử dụng cho bản thân và để bán kiếm lời. Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Vũ Đức S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo buộc phải hiểu chất ma túy là chất gây nghiện nghiêm trọng, hủy hoại sức khỏe của người mắc nghiện. Ma túy còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Tuy nhiên do bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích vụ lợi. Do đó cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, mặt khác nhằm răn đe, phòng ngừa và làm gương cho kẻ khác.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo có anh trai ruột là ông Vũ Hữu T3 được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân, bị cáo có 01 tiền sự, ngày 25/01/2024 bị Công an thị trấn V, B, Hà Giang xử phạt số tiền 1.500.000₫ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00250/QĐ-XPHC. Tuy nhiên lần phạm tội này là lần đầu. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Đối với Phạm Ngọc A có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ kết quả cân tịnh ma túy thu giữ được của Phạm Ngọc A là 0,077g (không phẩy không trăm bảy mươi bảy gam); Căn cứ kết quả tra cứu tiền án, tiền sự với A, xác định Anh chưa có tiền án, tiền sự nên không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Ngọc A về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Ngọc A bằng hình thức phạt tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Ngọc A: Ủy ban nhân dân xã T, huyện B đang làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc A. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Đức S, Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Đức S. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[8] Về nguồn gốc số ma túy bán cho Phạm Ngọc A vào ngày 08/4/2024 và số ma túy Vũ Đức S tự nguyện giao nộp khi bị khám xét: Vũ Đức S khai mua của Đào Trọng T1, sinh năm 1960, trú tại tổ F, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang với giá 3.000.000₫ (ba triệu đồng) vào khoảng hơn một tháng trước khi bị Cơ quan công an phát hiện. Qua điều tra, xác minh, xác định Đào Trọng T1 đã chết ngày 03/3/2024 và khi thực hiện việc trao đổi mua bán thì chỉ có 02 người ngoài ra không có ai khác biết, chứng kiến sự việc, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra tiếp. Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[9] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện B đã thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - bạc - đỏ, biển kiểm soát 23H6 - 8877, xe cũ đã qua sử dụng. Ngày 16/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm. Đối với các vật chứng còn lại, xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau: Đối với 01 phong bì niêm phong “Mẫu vật còn lại sau giám định, ký hiệu A, A1, A2, A3, A4", 02 phong bì niêm phong “Vỏ bao gói sau giám định” và “Toàn bộ vỏ bao gói sau cân tịnh” là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với số tiền 300.000₫ là tiền Sinh bán ma túy cho Anh mà có và 01 điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu xanh lá cây, cũ đã qua sử dụng là điện thoại Sinh dùng để trao đổi bán ma túy cho A, nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước. Đối với điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu đen, cũ đã qua sử dụng của Lê Thị H1, bà H1 không biết Phạm Ngọc A dùng điện thoại để liên lạc hỏi mua ma túy nên cần trả lại cho bà Lê Thị H1.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đức S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Đức S 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án và được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 đến ngày 15/05/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì màu trắng, có viền màu xanh, đỏ, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Toàn bộ vỏ bao gói sau cân tịnh”, mặt sau có các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B;
- + 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi "Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A, A1, A2, A3, A4", mặt sau phong bì có 02 (hai) hình dấu trong đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong;
- + 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau phong bì có 02 (hai) hình dấu trong đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.
- - Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước:
- + Tiền Việt Nam đồng, tổng số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được cho vào 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Tiền thu giữ của Vũ Đức S” mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu xanh lá cây, cũ đã qua sử dụng;
- - Trả lại cho bà Lê Thị H1 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu đen, cũ đã qua sử dụng;
- (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/07/2024 giữa cơ quan Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).
- - Tịch thu, tiêu hủy:
- Về án phí: Bị cáo Vũ Đức S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đỗ Hải Hà |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hải Hà |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức S
