Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HSST

Ngày: 14/8/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thành và ông Trần Văn Cường.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thuỳ Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh H; tên gọi khác: không, sinh ngày 12/10/1976 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số nhà I đường N, Tổ A, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...] cấp ngày 28/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH – Bộ C; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H1 (chết) và bà Nguyễn Thị H2; vợ: Lê Thị S (sinh năm 1982); con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2017; nhân thân: Còn nhỏ sống với bố mẹ, học văn hóa đến lớp 9 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình, sau đó lập gia đình, rồi làm nghề buôn bán và sinh sống tại địa phương cho đến nay; tiền sự: Không; tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024 đến ngày 15/01/2024, sau đó bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Nguyễn Đôn D; tên gọi khác: L, sinh ngày 02/7/1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số nhà G đường B, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...] cấp ngày 09/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH – Bộ C; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đôn Trung Q (sinh năm 1969) và bà Lê Thị T (sinh năm 1974); vợ: Nguyễn Thị Thanh T1 (sinh năm 1997); con: có 01 con sinh năm 2021; nhân thân: Còn nhỏ sống với bố mẹ, học văn hóa đến lớp 9 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình, sau đó lập gia đình, rồi học và làm nghề sửa xe cho đến nay; tiền sự: Không; tiền án: Không;

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/3/2024 cho đến nay, bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Phạm Văn R, sinh năm 1983; địa chỉ: Số A đường D, Tổ H, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  2. Ông Bùi Triều L1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ B, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  3. Ông Trương Trần T2, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  4. Bà Lê Thị Phương Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ F, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  5. Bà Văn Thị T3, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  6. Bà Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Trần Đ1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ D, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2021, thông qua mối quan hệ xã hội, Nguyễn Thanh H có quen biết một người phụ nữ tên “T4” (không rõ nhân thân, lai lịch), trú tại thành phố H có sử dụng số điện thoại 0905.242.xxx, do biết “T4” có ghi số đề nên H gặp “T4” đề nghị được ghi số đề và chuyển tịch đề cho “T4” để hưởng tiền hoa hồng thì được “T4” đồng ý. Cứ chuyển 1.000.000 đồng tiền ghi đề cho “T4” thì H được hưởng 55.000 đồng.

Để thuận tiện cho việc chuyển tịch đề, “T4” đã kết bạn zalo với H có tên tài khoản là “Thành Vân” có số điện thoại đăng ký là 0901.983.xxx và đưa H vào nhóm zalo do “T4” lập ra có tên tài khoản là “Huyền A 69 Tịch Chia”. Sau đó, H chuẩn bị các công cụ, phương tiện như: giấy, viết, máy tính, điện thoại di động rồi hàng ngày trực tiếp ghi số đề cho nhiều người chơi tại nhà ở của mình và rủ thêm Nguyễn Đôn D đứng ra ghi số đề (làm cái dưới của H) rồi chuyển cho H thông qua tài khoản zalo của D có tên là “Lắk” có số điện thoại đăng ký tài khoản là 0788666330, để hưởng tiền hoa hồng, cứ chuyển cho H 1.000.000 đồng tiền ghi đề thì D được hưởng 50.000 đồng.

Ngoài việc trực tiếp ghi số đề cho khách tại nhà, H còn sử dụng tài khoản zalo khác tên là “Thanh Huyen” có số điện thoại đăng ký tài khoản là 0985849022 để ghi số đề cho nhiều người chơi, trong đó có Phạm Văn R tên tài khoản zalo là “Cây Xăng R” có số điện thoại đăng ký là 0976.274.xxx; Bùi Triều L1 tên tài khoản zalo là “No Su” có số điện thoại đăng ký là 0930.770.xxx; Lê Thị Phương Đ tên tài khoản zalo là “Phương Đông L2” có số điện thoại đăng ký là 0901.177.xxx; Trương Trần T2 tên tài khoản zalo là “Đường Sắc” có số điện thoại đăng ký là 0904.640.xxx. Sau đó, H tổng hợp tất cả các tịch đề ghi được trong ngày trên tờ giấy A4, rồi sử dụng tài khoản zalo có tên “Thành Vân” để chuyển tịch đề cho “T4” qua nhóm zalo “Huyền A 69 Tịch Chia”. Sau khi tính tiền thắng thua đề thì khoảng 5 đến 7 ngày “T4” nhờ một người nam (không rõ lai lịch) về gặp trực tiếp H để thanh toán. Khoảng 17 giờ 12 phút ngày 11/01/2024, khi Nguyễn Thanh H đang tổng hợp các số đề trên tờ giấy A4 để chuyển cho “T4” qua nhóm zalo trên thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang.

Cách thức đánh bạc dưới hình thức chơi số đề và tỷ lệ thắng, thua cụ thể như sau:

Dựa trên kết quả quay số mở thưởng của các Công ty trách nhiệm hữu hạn xổ số kiến thiết thuộc các tỉnh miền N (tức đài miền N), cùng mở thưởng lúc 16 giờ 10 phút hàng ngày; miền T (tức đài miền T), cùng mở thưởng lúc 17 giờ 15 phút hàng ngày và miền B (tức đài miền B), mở thưởng lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày. Người chơi đề tự lựa chọn theo ý của mình các con số có 02 chữ số (02 chân) và số có 03 chữ số (03 chân) với số tiền tương ứng cho mỗi số và hình thức đánh bao gồm (bao lô, đầu, đuôi, đặc biệt, xuyên...). Sau khi có kết quả mở thưởng của các đài trên, người đánh đề đối chiếu các con số đã đánh với kết quả và số tiền thắng, thua như sau:

Đối với các đài xổ số miền T và miền N:

  • Đánh 18 lô có nghĩa là lấy số đánh so hai số cuối từ giải 8 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 70 rồi chia cho 18 thành số tiền thắng.
  • Đánh 17 lô có nghĩa là lấy số đánh so với ba số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 lần rồi chia cho 17 thành tiền thắng.
  • Đánh thượng 6 lô có nghĩa là lấy số đánh so với ba số cuối của giải 5, giải 6, giải 7 và giải đặc biệt, nếu trúng vào 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 rồi chia cho 6 thành tiền thắng.
  • Đánh số đầu có nghĩa là lấy số đánh so với hai số của giải 8, nếu trúng thì lấy tiền đánh nhân cho 70 thành tiền thắng.
  • Đánh số đuôi 02 số có nghĩa là lấy số đánh so với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì lấy số tiền đánh nhân cho 70 thành tiền thắng.
  • Đánh số đuôi 03 số hay còn gọi là đặc biệt có nghĩa là lấy số đánh so với ba số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 thành tiền thắng.
  • Đánh xuyên 2 có nghĩa là lấy cặp số đánh so với hai số cuối từ giải 8 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô (nghĩa là trùng với cả cặp số đánh) thì lấy số tiền đánh nhân cho 15 thành tiền thắng.
  • Đánh xuyên 3 có nghĩa là so sánh số đánh (03 số) với hai số cuối từ giải tám đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô (nghĩa là trùng với cả 03 số đánh) thì lấy số tiền đánh nhân cho 60 thành tiền thắng.

Đối với đài xổ số miền B:

  • Đánh 27 lô có nghĩa là lấy số đánh so với hai số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng vào 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 70 rồi chia cho 27 thành tiền thắng.
  • Đánh 23 lô có nghĩa là lấy số đánh (03 số) so với ba số cuối từ giải 6 đến giải đặc biệt, nếu trúng vào 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 rồi chia cho 23 thành tiền thắng.
  • Đánh thượng 04 lô có nghĩa là lấy số đánh so với các số ở giải sáu và 03 số đuôi giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 150 thành tiền thắng.
  • Đánh thượng 10 lô có nghĩa là lấy số đánh so với các số ở giải sáu, giải năm và ba số cuối giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 rồi chia 10 thành tiền thắng.
  • Đánh đầu 2 số có nghĩa là lấy số đánh so với các số của giải 7; nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 70 rồi chia 4 thành tiền thắng.
  • Đánh đuôi 2 số có nghĩa là lấy số đánh so với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì lấy tiền đánh nhân cho 70 thành tiền thắng.
  • Đánh đuôi 3 số hay còn gọi là đặc biệt có nghĩa là lấy số đánh so với ba số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì lấy tiền đánh nhân cho 600 thành tiền thắng.
  • Đánh xuyên 2 có nghĩa là so cặp số đánh với 2 số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô (nghĩa là trùng với cả cặp số đánh) thì lấy số tiền đánh nhân cho 10 thành tiền thắng.
  • Đánh xuyên 3 có nghĩa là so 03 cặp số đánh với 2 số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô (nghĩa là trùng với cả ba cặp số đánh) thì lấy số tiền đánh nhân cho 40 thành tiền thắng.
  • Đánh xuyên 4 có nghĩa là so 04 cặp số đánh với 2 số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô (nghĩa là trùng với cả bốn cặp số đánh) thì lấy số tiền đánh nhân cho 100 thành tiền thắng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có đủ cơ sở để xác định: các ngày 06/01/2024, 10/01/2024 và 11/01/2024, thông qua kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền N, miền T và miền B; xác định số tiền đánh bạc của Nguyễn Thanh H, Nguyễn Đôn D, Phạm Văn R, Bùi Triều L1, Lê Thị Phương Đ, Văn Thị T3, Trương Trần T2 và một số đối tượng khác chưa rõ lai lịch, cụ thể như sau:

1. Nguyễn Thanh H

  • Tổng số tiền đánh đề đài miền T (Quảng Ngãi, Đắk Nông) ngày 06/01/2024 là: 1.312.777 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền N (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng) ngày 10/01/2024 là: 9.586.100 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền T (Đà Nẵng, Khánh Hòa) ngày 10/01/2024 là: 14.902.400 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền B ngày 10/01/2024 là: 24.244.500 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền N (Tây Ninh, An Giang, Bình Thuận) ngày 11/01/2024 là: 13.086.100 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền T (Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định) ngày 11/01/2024 là: 9.612.700 đồng.

2. Nguyễn Đôn D

  • Tổng số tiền đánh đề đài miền N (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng) ngày 10/01/2024 là: 2.220.000 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền T (Đà Nẵng, Khánh Hòa) ngày 10/01/2024 là: 6.659.000 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền B ngày 10/01/2024 là: 17.580.500 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền N (Tây Ninh, An Giang, Bình Thuận) ngày 11/01/2024 là: 1.145.000 đồng.
  • Tổng số tiền đánh đề đài miền T (Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định) ngày 11/01/2024 là: 567.200 đồng.

3. Phạm Văn R

  • Tổng số tiền đánh đề đài miền T (Quảng Ngãi, Đ) ngày 06/01/2024 là: 1.312.777 đồng.

4. Bùi Triều L1

  • Tổng số tiền đánh đề đài miền Bắc ngày 10/01/2024 là: 134.500 đồng.

5. Văn Thị T3 thông qua tài khoản zalo của Lê Thị Phương Đ

  • Tổng số tiền đánh đề đài miền T (Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định) ngày 11/01/2024 là: 268.000 đồng.

6. Trương Trần T2

  • Tổng số tiền đánh đề đài miền N (Tây Ninh, An Giang, Bình Thuận) ngày 11/01/2024 là: 300.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định trước lúc bị bắt quả tang, Nguyễn Thanh HNguyễn Đôn D còn nhiều lần ghi số đề cho nhiều người. Tuy nhiên, sau mỗi lần thanh toán tiền ghi đề, thắng đề thì HD đã xoá các dữ liệu và tài liệu có liên quan đến việc đánh bạc, vì vậy không có cơ sở để xác định thêm các lần HD đánh bạc trước đó.

Do bị bắt quả tang nên ngày 11/01/2024, Nguyễn Thanh H ghi tổng số tiền đài miền N là 9.743.600 đồng, đài miền T là 9.612.700 đồng, H đã chuyển cho “T4” với số tiền đài miền N là 4.528.100 đồng, đài miền T5 là 3.669.500 đồng, số tiền ghi đề còn lại của đài miền N là 5.215.500 đồng, đài miền T là 5.943.200 đồng, Nguyễn Thanh H chưa kịp chuyển và chưa thanh toán tiền ghi đề, tiền hoa hồng với đối tượng “T4”. Riêng số tiền ghi đề, thắng đề của các ngày 06/01/2024, 10/01/2024, 11/01/2024, Nguyễn Thanh H đã thanh toán tiền ghi đề, tiền hoa hồng với Nguyễn Đôn D; đã thanh toán tiền ghi đề với Phạm Văn R, Bùi Triều L1, Lê Thị Phương Đ, Văn Thị T6, Trương Trần T2 và các đối tượng khác.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án:

Tạm giữ của Phạm Văn R gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 12 Pro Max, màu xanh, có số imei: 351406660426267, không gắn sim, có mật khẩu khoá màn hình là “123456”

Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H gồm:

  • Tiền Ngân hàng N số tiền: 30.570.000 đồng (ba mươi triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy Note 10 lite, màu trắng, bạc có số imei: 355045111741910, gắn sim số thuê bao 0985849022, có mật khẩu khoá màn hình là "0000".
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu đen có số imei: 35726509133860, ốp lưng bằng nhựa màu xanh, không có mật khẩu khoá màn hình.
  • 01 (một) máy tính xách tay MacBook Air màu trắng, có số Serial: CO2MQU1YG085, màu trắng.
  • 01 (một) máy tính Casio màu đen.
  • 01 (một) bút bi; 02 (hai) tờ giấy than; 07 (bảy) tờ giấy hình chữ nhật không ghi nội dung; 01 (một) tập giấy A4 không ghi nội dung.
  • 01 (một) tờ giấy A4 ghi nội dung tiền thắng, thu đề ngày 10/01/2024 có chữ ký họ, tên của Nguyễn Thanh H.
  • 03 (ba) tịch đề ngày 10/01/2024, ngày 11/01/2024 có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thanh H.
  • 33 (ba mươi ba) tờ phơi đề ngày 11/01/2024 có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thanh H.

Tạm giữ của Nguyễn Thị Thanh T4 gồm:

  • 01 (một) máy tính Casio D, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 14 Promax, màu tím, có số imei: 359056815592901, gắn sim số thuê bao 0905242345, mật khẩu khoá mà hình "888999".
  • 01 (một) cuốn vở hiệu “T.T.Book”, bìa in dòng chữ “Bicycle Day”.

Tạm giữ của Trương Trần T2 gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 6s Plus, màu hồng, có số imei: 358608072891342, không gắn sim, có mật khẩu khoá màn hình là “101987”.

Tạm giữ của Lê Thị Phương Đ gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A32, màu xanh, có số imei 1: 356835154450488, imei 2: 358934994450482.

Tạm giữ của Bùi Triều L1 gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A20S, màu đen, có số imei: 353250114328432.

Tạm giữ của Nguyễn Đôn D gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu trắng, có số imei: 357272098627429, có mật khẩu khoá màn hình là “1111”, điện thoại bị nứt màn hình, mặt lưng điện thoại bị nứt vỡ.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định: điện thoại di động hiệu iPhone 14 Promax, màu tím, có số imei: 359056815592901, thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T4 không phải là vật chứng vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T4 theo đúng quy định pháp luật.

Riêng các tịch đề được chuyển theo hồ sơ vụ án; các vật chứng khác được chuyển cho Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã H để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS-HTh ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Đôn D về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Đôn D phạm tội: “Đánh bạc”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đôn D từ 35.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền thu lợi bất chính, số tiền do phạm tội mà có và điện thoại, máy tính sử dụng để đánh bạc trái phép. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Đã có cơ sở khẳng định: Vào các ngày 10/01/2024 và 11/01/2024, tại nhà ở của mình tại địa chỉ số I đường N, Tổ A, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; bị cáo Nguyễn Thanh H đã chuẩn bị các công cụ, phương tiện như: giấy, viết, máy tính, điện thoại di động; sau đó, rủ rê thêm bị cáo Nguyễn Đôn D để tổ chức cho nhiều đối tượng khác đánh bạc trái phép dưới hình thức lô đề, thông qua kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N, miền T và miền B được, thua bằng tiền. Với tổng số tiền bị cáo H dùng vào việc đánh bạc là 71.431.800 đồng (bảy mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm đồng), trong đó có 01 lần mà tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trị giá 24.244.500 đồng (đài miền B ngày 10/01/2024). T7 lợi bất chính số tiền: 2.393.083 đồng. Hành vi tổ chức đánh bạc mà tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trong cùng một lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên của bị cáo Nguyễn Thanh H, đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Đôn D đã 02 lần trực tiếp đánh bạc với Nguyễn Thanh H, với số tiền dùng để đánh bạc trị giá 24.239.500 đồng (hai mươi bốn triệu hai trăm ba mươi chín ngàn năm trăm đồng). T7 lợi bất chính số tiền là: 1.033.085 đồng. Hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền của bị cáo Nguyễn Đôn D, đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H truy tố các bị cáo theo bản cáo trạng số 38/CT-VKSHTh ngày 03/6/2024 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức ghi số đề là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:

Bị cáo H không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo D phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo H và bị cáo D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo H tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính và số tiền do phạm tội mà có, đồng thời tự nguyện nộp lại số tiền còn lại là tiền cá nhân trong tổng số tiền bị tạm giữ 30.570.000 đồng để khắc phục hậu quả, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt:

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy rằng: bị cáo H là người rủ rê, tổ chức cho bị cáo D tham gia đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm chính, bị cáo D là người trực tiếp đánh bạc với bị cáo H nên phải chịu trách nhiệm sau bị cáo H.

Tuy nhiên xét cả hai bị cáo HD đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và tính chất phạm tội mang tính giản đơn, động cơ mục đích vì vụ lợi nên việc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa.

[6] Đối với các lần bị cáo H, bị cáo D tham gia đánh bạc dưới 05 triệu đồng là hành vi vi phạm hành chính nên Công an thị xã H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H, D về hành vi này là có căn cứ pháp luật.

Đối với Phạm Văn R, Bùi Triều L1, Lê Thị Phương Đ, Văn Thị T6, Trương Trần T2 đã có hành vi đánh bạc trái phép với Nguyễn Thanh H. Tuy nhiên, số tiền dùng để đánh bạc đều dưới 05 triệu đồng, những người này chưa có tiền án tiền sự về tội phạm và hành vi vi phạm được quy định tại các Điều 321, 322 của Bộ luật Hình sự, nên Công an thị xã H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối tượng có tên “T4” và một số đối tượng khác, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý.

[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

  • + Cần buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính và số tiền do phạm tội mà có để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước gồm:
    • Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính: 2.393.083 đồng và số tiền phạm tội mà có 11.158.700 đồng, tổng cộng là 13.551.783 đồng;
    • Buộc bị cáo Nguyễn Đôn D phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính: 1.033.085 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thanh H tự nguyện nộp lại số tiền không liên quan đến tội phạm vào Ngân sách Nhà nước là 17.018.217 đồng (mười bảy triệu không trăm mười tám nghìn hai trăm mười bảy đồng); đây là số tiền còn lại của bị cáo sau khi khấu trừ số tiền đang bị tạm giữ 30.570.000 đồng và số tiền bị cáo phải nộp lại do thu lợi bất chính và phạm tội mà có 13.551.783 đồng.

  • + Đối với các vật chứng đang bị tạm giữ của các bị cáo, đây là các vật chứng các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước, gồm:
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy Note 10 lite, màu trắng, bạc có số imei: 355045111741910, gắn sim số thuê bao 0985849022, có mật khẩu khoá màn hình là “0000” tạm giữ của Nguyễn Thanh H.
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu đen có số imei: 35726509133860, ốp lưng bằng nhựa màu xanh, không có mật khẩu khoá màn hình tạm giữ của Nguyễn Thanh H.
    • 01 (một) máy tính xách tay MacBook Air màu trắng, có số Serial: CO2MQU1YG085, màu trắng tạm giữ của Nguyễn Thanh H.
    • 01 (một) máy tính Casio màu đen tạm giữ của Nguyễn Thanh H.
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu trắng, có số imei: 357272098627429, có mật khẩu khoá màn hình là “1111”, điện thoại bị nứt màn hình, mặt lưng điện thoại bị nứt vỡ tạm giữ của Nguyễn Đôn D.
  • + Đối với các điện thoại di động đang tạm giữ của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đây là các vật chứng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sử dụng để đánh bạc với các bị cáo và không ai có ý kiến gì về yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước gồm:
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 12 Pro Max, màu xanh, có số imei: 351406660426267, không gắn sim, có mật khẩu khoá màn hình là “123456” tạm giữ của Phạm Văn R.
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 6s Plus, màu hồng, có số imei: 358608072891342, không gắn sim, có mật khẩu khoá màn hình là “101987” tạm giữ của Trương Trần T2.
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A32, màu xanh, có số imei 1: 356835154450488, imei 2: 358934994450482 tạm giữ của bà Lê Thị Phương Đ.
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A20S, màu đen, có số imei: 353250114328432 tạm giữ của ông Bùi Triều L1;
  • + Đối với các tài sản tạm giữ của bà Nguyễn Thị Thanh T4 gồm:
    • 01 (một) máy tính Casio D, đã qua sử dụng.
    • 01 (một) cuốn vở hiệu “T.T.Book”, bìa in dòng chữ “Bicycle Day”.

Nguyễn Thị Thanh T4 không có yêu cầu nhận lại các tài sản này do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

  • + Đối với các vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy gồm:
    • 01 (một) bút bi; 02 (hai) tờ giấy than;
    • 07 (bảy) tờ giấy hình chữ nhật không ghi nội dung;
    • 01 (một) tập giấy A4 không ghi nội dung có vỏ bìa ngoài màu xanh.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Đôn D phạm tội: “Đánh bạc”.
  2. 2. Về trách nhiệm hình sự:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Số tiền này được nộp vào Ngân sách Nhà nước.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đôn D 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng). Số tiền này được nộp vào Ngân sách Nhà nước.

  3. 3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên xử:
    • + Buộc bị cáo Nguyễn Đôn D phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là: 1.033.085 đồng (một triệu không trăm ba mươi ba nghìn không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
    • + Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền đang bị tạm giữ 30.570.000 đồng (ba mươi triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng) của bị cáo Nguyễn Thanh H.
    • + Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước gồm:
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy Note 10 lite, màu trắng, bạc có số imei: 355045111741910, gắn sim số thuê bao 0985849022, có mật khẩu khoá màn hình là “0000” tạm giữ của Nguyễn Thanh H.
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu đen có số imei: 35726509133860, ốp lưng bằng nhựa màu xanh, không có mật khẩu khoá màn hình tạm giữ của Nguyễn Thanh H.
      • 01 (một) máy tính xách tay MacBook Air màu trắng, có số Serial: CO2MQU1YG085, màu trắng tạm giữ của Nguyễn Thanh H.
      • 01 (một) máy tính Casio Mx-12B màu đen tạm giữ của Nguyễn Thanh H.
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu trắng, có số imei: 357272098627429, có mật khẩu khoá màn hình là “1111”, điện thoại bị nứt màn hình, mặt lưng điện thoại bị nứt vỡ tạm giữ của Nguyễn Đôn D.
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 12 Pro Max, màu xanh, có số imei: 351406660426267, không gắn sim, có mật khẩu khoá màn hình là “123456” tạm giữ của Phạm Văn R.
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 6s Plus, màu hồng, có số imei: 358608072891342, không gắn sim, có mật khẩu khoá màn hình là “101987” tạm giữ của Trương Trần T2.
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A32, màu xanh, có số imei 1: 356835154450488, imei 2: 358934994450482 tạm giữ của bà Lê Thị Phương Đ.
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A20S, màu đen, có số imei: 353250114328432 tạm giữ của ông Bùi Triều L1;
    • + Tịch thu tiêu hủy:
      • 01 (một) máy tính Casio D, đã qua sử dụng.
      • 01 (một) cuốn vở hiệu “T.T.Book”, bìa in dòng chữ “Bicycle Day”.
      • 01 (một) bút bi; 02 (hai) tờ giấy than; 07 (bảy) tờ giấy hình chữ nhật không ghi nội dung; 01 (một) tập giấy A4 không ghi nội dung có vỏ bìa ngoài màu xanh.

      (Vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 7 năm 2024).

  4. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Nguyễn Thanh HNguyễn Đôn D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. 5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT công an thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Hương Thuỷ;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (tổ chức đánh bạc, đánh bạc)

  • Số bản án: 44/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc, Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H; tên gọi khác: không, sinh ngày 12/10/1976 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số nhà I đường N, Tổ A, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nguyễn Đôn D; tên gọi khác: L, sinh ngày 02/7/1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số nhà G đường B, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger