|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-PT Ngày 14-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Chiến
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Vinh và ông Lê Văn Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với Lăng Thị N do có kháng cáo của bị hại bà Đặng Thị V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 20-02-2024 của Toà án nhân dân huyện Cư Jút.
Bị cáo bị kháng cáo:
Lăng Thị N; sinh năm: 1976; tại tỉnh Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Lăng Văn L và bà Hoàng Thị N1 ( đều đã chết); có chồng là Hoàng Văn K, sinh năm 1977. Bị cáo có bốn người con, con lớn nhất sinh năm 1995 và con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, Tiền sự: Không; đang tại ngoại - Có mặt.
Bị hại: Bà Đặng Thị V, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 13/12/2012, Lăng Thị N nhờ chị họ là Lăng Thị M đến nhà bà Đặng Thị V ở thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông để hỏi vay tiền về làm ăn.
Do tin tưởng N là em bà M nên bà V đồng ý cho N vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) với lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay là hai tháng, hai bên có viết giấy vay tiền, Lăng Thị N ký dưới phần người vay, Lăng Thị M ký dưới phần người làm chứng. Đến ngày 13/02/2013 không thấy N đến trả tiền nên bà Đặng Thị V cùng Lăng Thị M đến nhà N đòi tiền nhưng N xin khất nợ thì bà V đồng ý. Sau đó, bà V nhiều lần đến nhà N đòi tiền nợ nhưng N vẫn không trả tiền cho bà V. Đến ngày 19/3/2014, bà V tiếp tục đến nhà N đòi tiền nhưng N lại xin khất nợ thêm thì bà V không đồng ý, hai bên xảy ra cãi nhau thì được Công an xã E đến lập biên bản, lúc này bà V đồng ý cho N khất nợ đến ngày 19/5/2014. Ngày 22/5/2014, Ủy ban nhân dân xã E mời bà V và N đến trụ sở để giải quyết việc thỏa thuận trả nợ, tại đây bà V đồng ý cho N khất nợ đến ngày 22/7/2014. Tuy nhiên, khoảng tháng 6/2014 thì Lăng Thị N bỏ đi khỏi địa phương đến làm rẫy ở xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, sau đó Nghệ thay đổi nhiều nơi ở và cắt đứt liên lạc với bà V và người thân trong gia đình nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Đến ngày 14/5/2016, Lăng Thị N xuất cảnh đi nước ngoài (nước Ả Rập X) cho đến ngày 26/7/2023 thì mới nhập cảnh về Việt Nam. Trong khoảng thời gian làm việc, sinh sống ở nước ngoài Lăng Thị N không liên lạc gì với Đặng Thị V về số tiền đã vay nợ vào ngày 13/12/2012, N cũng không nhờ ai khất nợ hay trả nợ thay cho N đối với khoản tiền nợ bà V.
Trong quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đắk Nông điều tra xác minh giải quyết vụ việc thì Lăng Thị N đã bỏ trốn khỏi địa phương nên ra Quyết định truy nã, đến ngày 28/7/2023, Lăng Thị N đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú.
Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 20-02-2024 của Toà án nhân dân huyện Cư Jút đã quyết định: Tuyên bố Lăng Thị N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lăng Thị N 02 năm 03 tháng tù. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 05-03-2024, bị hại bà Đặng Thị V kháng cáo phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Lăng Thị N.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại bà Đặng Thị V nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị hại Đặng Thị V, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
Bị hại trình bày: Không đồng ý với ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát, thiệt hại của bị hại rất nhiều nên đề nghị Hội đồng xét xử phải buộc bị cáo trả số tiền tôi yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của bị hại được thực hiện trong thời hạn luật định, bị hại đã thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo của bị hại bà Đặng Thị V, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1]. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần, sức khỏe, bị hại Đặng Thị V không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo Lăng Thị N gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này.
[2.2]. Về yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Ngày 13/12/2012, bà V cho bị cáo Lăng Thị N vay 50.000.000đ với lãi suất thỏa thuận 5%/tháng, thời hạn vay là 02 tháng (Theo Giấy vay tiền đề ngày 13/12/2012).
- Do không có tiền trả nên ngày 22/5/2014, bà Đặng Thị V đồng ý gia hạn và bị cáo Lăng Thị N cam kết sẽ trả cho bà V số tiền gốc 50.000.000đ và tiền lãi 50.000.000đ vào ngày 22/7/2014 (Theo Giấy khất nợ đề ngày 22/5/2014).
- Khoảng tháng 6/2014, bị cáo N bỏ đi khỏi địa phương, cắt đứt liên lạc với bà V, sau đó xuất cảnh đi nước ngoài, sau khi bị Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định truy nã thì bị cáo N mới ra đầu thú vào ngày 28/7/2023.
Như vậy, ngoài chiếm đoạt số tiền gốc là 50.000.000đ thì bị cáo còn trốn tránh trách nhiệm đối với số tiền lãi trong thời hạn hai bên thỏa thuận trước khi hành vi của bị cáo bị coi là phạm tội, và thời điểm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là sau ngày 22/7/2014 thời hạn trả nợ cuối cùng bị cáo N không trả nợ và đã bỏ trốn nhằm chiếm đoạt số tiền đã vay và tiền lãi phải trả cho bà V là ngày 23/7/2014. Đây là thiệt hại xác định được theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên theo quy định tại Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 2 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 công bố đối với loại cho vay tương ứng” (Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng N2 quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm, tương ứng với mức 150% lãi suất cơ bản là 13,5%/năm). Lãi suất thỏa thuận giữa bà N và bà V lần đầu là 5%/tháng (tương đương 60%/năm), số tiền lãi thỏa thuận lần sau là 50.000.000đ (tương đương 62%/năm) đều vượt quá mức lãi suất quy định nêu trên, do đó mức lãi suất là giá trị thiệt hại trong trường hợp này là 13,5%/năm. Vậy số tiền bị cáo Lăng Thị N phải hoàn trả và bồi thường cho bà V bao gồm:
(1) T chiếm đoạt = 50.000.000₫
(2) Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = 50.000.000₫ x 13,5% x 01 năm 07 tháng 09 ngày = 10.853.938đ (tiền thiệt hại)
Tổng cộng: (1) + (2) = 50.000.000đ + 10.853.938đ = 60.853.938₫
Do đó, tổng số tiền bị cáo phải hoàn trả, bồi thường cho bị hại là 60.853.938đ, được khấu trừ số tiền 25.000.000₫ bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút ngày 28/12/2023. Bị cáo phải tiếp tục hoàn trả, bồi thường cho bị hại số tiền 35.853.938đ (ba mươi lăm triệu tám trăm năm mươi ba nghìn chín trăm ba mươi tám đồng).
[3]. Trong vụ án này cấp sơ thẩm có một số thiếu sót cụ thể là không tuyên về việc bị cáo phải chịu lãi suất chậm thi hành án đối với số tiền còn phải thi hành cũng như không nêu trong bản án quy định của Luật Thi hành án dân sự là không đúng, không đầy đủ.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Đặng Thị V sửa bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, điều luật áp dụng và án phí dân sự sơ thẩm.
[4]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa phúc thẩm chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
[5]. Về án phí:
[5.1]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Đặng Thị V phải chịu 25.565.842 đồng (hai mươi lăm triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi hai đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận. Bị cáo phải nộp 1.792.696 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5.2]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị hại bà Đặng Thị V được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm, trả lại cho bà V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005007 ngày 11 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút.
[6]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại bà Đặng Thị V, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 20-02-2024 của Toà án nhân dân huyện Cư Jút về trách nhiệm dân sự, điều luật áp dụng và án phí dân sự sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 476, 604, 605 và 608 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Buộc bị cáo Lăng Thị N phải hoàn trả, bồi thường cho bị hại số tiền 60.853.938đ, được khấu trừ số tiền 25.000.000đ bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút ngày 28/12/2023. Bị cáo còn phải tiếp tục hoàn trả, bồi thường cho bị hại số tiền 35.853.938đ (ba mươi lăm triệu tám trăm năm mươi ba nghìn chín trăm ba mươi tám đồng).
“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự”.
2. Về án phí:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lăng Thị N phải nộp 1.792.696 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Buộc bị hại bà Đặng Thị V phải chịu 25.565.842 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.
2.2. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị hại bà Đặng Thị V được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 23, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, trả lại cho bà V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005007 ngày 11 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Chiến |
6
Bản án số 44/2024/HS-PT ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 44/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lăng Thị N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lăng Thị N 02 năm 03 tháng tù.
