|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 13-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hanh và bà Kiều Thị Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Phạm Tuấn A, sinh năm 1979 tại xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: HKTT: Tổ 3 khu S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Tạ Thị X; vợ: Hoàng Thị B (đã ly hôn); con: Có 02 con; tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án số 15/2022/HSST ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Phạm Tuấn A 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Tại Bản án số 17/1999/HSST ngày 13/4/1999 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Phạm Tuấn A 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và “Cướp tài sản của công dân”.
- + Tại Bản án số 1290/1999/HSST ngày 31/9/1999 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Tuấn A 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân".
- + Tại Bản án số 18/2004/HSST ngày 18/8/2004 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt Phạm Tuấn A 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích".
- + Tại Bản án số 25/2004/HSST ngày 11/11/2004 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt Phạm Tuấn A 36 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam".
- + Tại Bản án số 171/2013/HSST ngày 29/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Tuấn A 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Ngày 30/3/2016, Phạm Tuấn A bị Công an thành phố V, tỉnh Phủ Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 1.000.000đồng.
- + Ngày 15/4/2016, Phạm Tuấn A bị Công an thành phố V, tỉnh Phủ Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 1.000.000đồng.
- + Ngày 26/4/2016, Phạm Tuấn A bị Công an thành phố V, tỉnh Phủ Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 1.500.000đồng.
- + Ngày 06/5/2016, Phạm Tuấn A bị Công an thành phố V, tỉnh Phủ Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Tuấn A về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 1.000.000đồng.
- + Tại Bản án số 22/2017/HSST ngày 24/02/2017 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Tuấn A 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay, có mặt.
- Bị hại: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1979, địa chỉ: TDP H, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Tùng S, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
- + Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1976, địa chỉ: Số A, ngách D, phố L, tổ B, khu H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
- + Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1960, địa chỉ: Tổ A, phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/01/2024, Phạm Tuấn A đến quán trà đá gần sân vận động thành phố V của ông Đinh Văn H1 uống nước. Sau đó, Phạm Tuấn A nhờ ông H1 gọi giúp 01 xe taxi chở Tuấn A đến nhà bạn ở tỉnh Thái Nguyên chơi, ông H1 đồng ý rồi gọi điện thoại cho anh Nguyễn Đình K (là người lái xe taxi) đến đón Tuấn A. Khoảng 18 giờ cùng ngày, anh K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, BKS: 19A-145.57 đến đón Tuấn A rồi đi từ thành phố V đến tỉnh Thái Nguyên. Khi đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Tuấn A bảo anh K không đi Thái Nguyên nữa mà đi về quê của Tuấn A ở thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và chỉ đường cho anh K. Khi đi gần đến ngã tư giao cắt giữa đường Q với đường tỉnh lộ 310 thuộc thị trấn K, Phạm Tuấn A bảo anh K dừng xe ven đường, Tuấn A xuống xe hỏi địa chỉ nhà bạn của Tuấn A nhưng không hỏi được nên Tuấn A lên xe bảo anh K chở đến quán K1, C 79 của chị Bùi Thị D (là bạn quen biết với Tuấn A từ trước) để uống cafe. Khi đến nơi, Phạm Tuấn A bảo anh K dừng xe ở trước cửa quán chờ, còn Tuấn A đi vào quán gọi nhưng không thấy ai trả lời. Lúc này, thấy cửa quán không khóa, Phạm Tuấn A mở cửa đi vào trong quán thì thấy cạnh cửa ra vào có 01 máy hàn điện, nhãn hiệu Eking, màu vàng; 01 máy cắt sắt, loại máy bàn, nhãn hiệu Jatek; 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB- 3000, màu đen; 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB-1500, màu đen, đều đã qua sử dụng. Quan sát thấy không có người trông coi, quản lý, Phạm Tuấn A nảy sinh ý định trộm cắp các tài sản này để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Phạm Tuấn A lén lút đi vào trong quán trộm cắp 01 máy hàn điện nhãn hiệu Eking; 01 máy cắt sắt nhãn hiệu Jatek rồi mang ra ngoài để ở hàng ghế sau xe ô tô và nói dối anh K đây là tài sản Tuấn A vừa thu nợ được, anh K tin tưởng và không nói gì, Tuấn A tiếp tục quay lại trong quán trộm cắp thêm 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB-3000 và 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB-1500 mang ra ngoài để ở cốp sau xe ô tô rồi bảo anh K chở về thành phố V. Khi đi qua địa phận xã B, huyện V, Phạm Tuấn A bảo anh K dừng xe tại cửa hàng thu mua đồ điện dân dụng của anh Nguyễn Tùng S làm chủ, Tuấn A xuống xe lấy máy hàn điện và máy cắt sắt vừa trộm cắp được để bán, còn 02 máy phun khói Tuấn A để lại trên xe rồi bảo anh K đi xe về trước và nhờ anh K gửi 02 máy phun khói này ở quán của ông H1. Sau đó, Phạm Tuấn A mang máy hàn điện và máy cắt sắt vào cửa hàng gặp anh S và nói dối đây là tài sản của Tuấn A không dùng đến cần bán, anh S tin tưởng, đồng ý mua 02 máy này với giá 1.100.000đồng. Sau khi bán được tài sản, Tuấn A ra ngoài vẫy 01 xe taxi (không rõ BKS và thông tin lai lịch người lái xe) rồi đi về nhà. Khoảng 09 giờ ngày 08/01/2024, Phạm Tuấn A thuê 01 xe taxi (không rõ BKS và thông tin lai lịch người lái xe) chở đến quán của ông H1 lấy 02 máy phun khói rồi bảo người lái xe taxi chở Tuấn A đến cửa hàng thu mua đồ điện dân dụng G ở thôn M, xã T, huyện V. Khi đến nơi, Tuấn A mang 02 máy phun khói vào cửa hàng gặp anh Bùi Văn Đ và nói dối đây là tài sản của Tuấn A không dùng đến cần bán, anh Đ tin tưởng, đồng ý mua máy phun khói nhãn hiệu DMX-F0GDB- 3000 với giá 1.000.000đồng, còn máy phun khói nhãn hiệu DMX-F0GDB-1500 bị hư hỏng anh Đ không mua. Sau khi bán được tài sản, Tuấn A đi taxi về thành phố V, trên đường về Tuấn A vứt bỏ máy phun khói bị hư hỏng ở ven đường rồi đi về nhà.
Ngày 08/01/2024, chị Bùi Thị D có đơn trình báo cơ quan Công an về việc bị trộm cắp tài sản như trên, đồng thời chị D giao nộp cho cơ quan điều tra 01 đoạn video trích xuất từ camera ghi lại diễn biến sự việc bị mất trộm tài sản ngày 07/01/2024.
Ngày 09/01/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định tạm giữ và tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Tuấn A. Cùng ngày, cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 máy cắt sắt, loại máy bàn nhãn hiệu Jatek; 01 máy hàn điện màu vàng nhãn hiệu Eking do anh Nguyễn Tùng S giao nộp; tạm giữ 01 máy tạo khói nhãn hiệu DMX-F0GDB-3000, màu đen do ông Bùi Văn Đ giao nộp; tạm giữ xe xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, BKS: 19A - 145.57, màu sơn bạc do anh Nguyễn Đình K giao nộp.
Tại Kết luận giám định số 892/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh V kết luận: “Trích xuất được 12 ảnh diễn biến của những người và phương tiện xuất hiện trên ba tập video lưu trong mẫu vật gửi giám định; chi tiết được thể hiện trong Phụ lục giám định. Sao lưu được ba tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định vào hai đĩa DVD. Kèm theo kết luận giám định có 02 đĩa DVD và một Phụ lục giám định có chữ ký của giám định viên”. Qua giám định xác định: Ảnh 1, 2: Xuất hiện một người (trong khung tròn màu đỏ) đứng phía ngoài cửa, sau đó mở cửa đi vào trong nhà. Ảnh 3, 4: Người tả trên đi qua lại rồi đi ra khỏi nhà. Ảnh 5, 6: Xuất hiện hai người từ trên ô tô đi xuống, người A mặc áo ngắn tay sáng màu, quần dài tối màu; người B mặc áo dài tay tối màu, quần dài tối màu. Ảnh 7, 8: Người A đi vào bên trong nhà, lấy đồ vật đang để trong nhà rồi mang ra bên ngoài. Ảnh 9: Người A để đồ vật lên ghế sau xe ô tô. Ảnh 10: Người A đi vào bên trong nhà, lấy đồ vật đang để trong nhà rồi mang ra bên ngoài. Ảnh 11: Người B mở cốp xe ô tô, người A để đồ vật vào cốp. Ảnh 12: Người A và người B lên xe ô tô đi khuất khỏi tầm quan sát của camera.
Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện T, kết luận: “01 máy hàn điện, nhãn hiệu Eking, màu vàng, đã cũ, đã qua sử dụng có trị giá 1.550.000đ; 01 máy cắt sắt, loại máy bàn, nhãn hiệu Jatek, đã cũ, đã qua sử dụng có trị giá 700.000đ; 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB- 3000, màu đen, đã cũ, đã qua sử dụng có trị giá 1.700.000đ; 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB-1500, màu đen, đã cũ, đã hư hỏng không còn sử dụng được có trị giá 300.000đ. Tổng trị giá là 4.250.000đ (Bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng)”.
Đối với anh Nguyễn Tùng S và anh Bùi Văn Đ là những người thu mua lại tài sản do Phạm Tuấn A trộm cắp, quá trình điều tra xác định khi Phạm Tuấn A mang các tài sản trộm cắp đến bán cho anh S và anh Đ thì Tuấn A nói dối đó là tài sản của Tuấn A không sử dụng đến cần bán nên anh S và anh Đ tin tưởng, không biết đây là tài sản do Tuấn A trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Đình K là người lái xe taxi chở Phạm Tuấn A đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định khi Tuấn A trộm cắp tài sản và mang tài sản ra xe ô tô thì Tuấn A nói dối anh K đây là tài sản Tuấn A vừa thu nợ được, anh K không biết và cũng không liên quan đến hành vi phạm tội của Tuấn A nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với ông Đinh Văn H1 là người cho Phạm Tuấn A gửi 02 máy phun khói mà Tuấn A đã trộm cắp ngày 07/01/2024, quá trình điều tra xác định ông H1 không biết các tài sản đó là do Tuấn A trộm cắp mà có, ông H1 cũng không liên quan đến hành vi phạm tội của Tuấn A nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Phạm Tuấn A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSTD ngày 05/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương truy tố Phạm Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị buộc bị cáo trả lại ông Bùi Văn Đ 1.000.000đồng. Về án phí, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 07/01/2024, tại nhà ở của chị Bùi Thị D ở TDP H, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, lợi dụng sơ hở của chị Bùi Thị D, bị cáo Phạm Tuấn A đã lén lút trộm cắp 01 máy hàn điện, nhãn hiệu Eking, màu vàng; 01 máy cắt sắt, loại máy bàn, nhãn hiệu Jatek; 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB- 3000, màu đen; 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB-1500, màu đen, đều đã qua sử dụng có tổng trị giá 4.250.000đồng của chị Bùi Thị D. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, trước lần phạm tội này bị cáo đã từng nhiều lần bị kết án về các tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cố ý gây thương tích, trốn khỏi nơi giam, tàng trữ trái phép chất ma túy và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đáng lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, nhất thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội. Năm 2022 bị cáo bị xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội do cố ý, nên lần phạm tôi này của bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, tại địa phương bị cáo không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng: Các tài sản bị cáo trộm cắp của chị Bùi Thị D gồm 01 máy hàn điện, 01 máy cắt sắt, 01 máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB-3000 đã được cơ quan điều tra trả lại cho chị D; đối với máy phun khói, nhãn hiệu DMX-F0GDB-1.500, đã cũ và bị hư hỏng, quá trình điều tra không thu giữ được; đối với xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, BKS: 19A-145.57 đã được cơ quan điều tra trả lại cho anh Nguyễn Đình K. Chị D và anh K không yêu cầu đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Bùi Thị D không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; người liên quan anh Nguyễn Tùng S không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 1.100.000đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền 1.000.000đồng anh Bùi Văn Đ mua máy phun khói khi Phạm Tuấn A đến bán, nay anh Đ yêu cầu bị cáo trả lại nên cần buộc bị cáo phải trả lại anh Đại số tiền 1.000.000đồng
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Tuấn A 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2024. - Buộc bị cáo Phạm Tuấn A trả cho anh Bùi Văn Đ 1.000.000đồng.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật nếu anh Bùi Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo Phạm Tuấn A chưa thanh toán được số tiền trên thì hàng tháng bị cáo Phạm Tuấn A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. - Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Tuấn A phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự trong vụ án hình sự.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Hoàng |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Tuấn A - Trộm cắp tài sản
