TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12/8/2024
V/v: “Kiện ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân;
2. Bà Mai Thị Hiền
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai. Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 69/2024/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Bàn Thanh T - Sinh năm 1969
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: Tổ F, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Có mặt”
2. Bị đơn: Chị Đặng Thị H - Sinh năm 1971
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ B phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Bàn Thanh T trình bày: Anh Bàn Thanh T và chị Đặng Thị H được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 07/7/2011 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc hoà thuận khoảng vài năm. Đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, cụ thể trong thời gian chung sống với nhau, chị Đặng Thị H không có trách nhiệm gì với gia đình, bố chồng đã tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, từ khi bố chồng ốm liệt giường từ năm 2018 đến nay chị Đặng Thị H không bao giờ sang thăm hỏi bố chồng, không có trách nhiệm về người con có hiếu với bố mẹ, không có tinh thần chăm sóc bố chồng trong suất thời gian bố đau ốm đến khi chết. Mẹ đẻ anh T cũng là người bị bệnh tim nặng từ năm 2023, mặc dù phải mổ tại Hà Nội nhưng chị Đặng Thị H cũng không có trách nhiệm gì. Ngoài ra trong thời gian chung sống, mặc dù anh T vẫn có trách nhiệm với con riêng của chị Đặng Thị H, nhưng ngược lại chị Đặng Thị H không có trách nhiệm gì với con riêng của anh T. Về kinh tế chị H cho vay nợ thua lỗ, thế chấp tài sản mà không bàn bạc gì với anh T dẫn đến bức súc. Từ những việc như vậy diễn ra khoảng 7 năm nay dẫn đến việc bất đồng quan điểm sống, anh T không còn tình cảm gì với chị H, vợ chồng đã ly thân nhau được khoảng 5 năm nay, từ tháng 01/2024 anh T đã về nhà mẹ đẻ tại Tổ F, phường B, thành phố L để sinh sống. Đến nay anh Bàn Thanh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, đề nghị Toà án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đặng Thị H.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Anh Bàn Thanh T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Đặng Thị H trình bày: Chị Đặng Thị H nhất trí về ngày tháng năm và địa điểm đăng ký kết hôn như anh Bàn Thanh T trình bày. Chị H xác định từ khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, êm ấm. Từ khi kết hôn chị là người nhiều lần chăm sóc anh T ốm đau, bệnh tật. Cuối năm 2011 anh Bàn Thanh T bị đau thận nằm ở bệnh viện chị là người hết lòng chăm sóc anh; Năm 2015 anh bị đứt dây chằng chéo, phải về bệnh viện chị cũng phải xin cơ quan nghỉ việc để chăm sóc. Đến năm 2016 anh T bị tai nạn xe gây xương sườn chị cũng chăm sóc. Vợ chồng chị rất yêu thương nhau, đi đâu cũng có nhau, vợ chồng hòa thuận yên ấm làm ăn. Bản thân chị nhận thấy yêu thương chồng hết mực, vợ chồng xum vầy hạnh phúc, anh vẫn thường mua sắm đồ dùng cá nhân cho chị và các con, cháu chị. Bản thân chị có trách nhiệm gánh vác công việc nhà chồng và chăm lo cho người thân bên gia đình chồng, cả tình cảm và kinh tế. Chị nhận thấy hai vợ chồng chưa đánh cãi nhau bao giờ, chị vẫn yêu thương anh T, không có lý do gì để ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết để hai vợ chồng được đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Chị Đặng Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên ý kiến
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến yêu cầu xem xét vấn đề gì về thủ tục tố tụng.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về việc “Ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Về hôn nhân: Anh Bàn Thanh T và chị Đặng Thị H được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 07/7/2011 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện do vậy hôn nhân giữa anh T và chị H là hôn nhân hợp pháp. Anh T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do chị H không quan tâm chăm sóc gia đình nhà chồng, về kinh tế thì chị H cho vay nợ thua lỗ, thế chấp tài sản mà không bàn bạc gì với anh T, vợ chồng đã ly thân khoảng 05 năm nay. Anh T cung cấp 01 đơn xin xác nhận ngày 10/7/2024 của chính quyền địa phương xác nhận anh Bàn Thanh T có hộ khẩu thường trú tại tổ B phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai nhưng chuyển đến sinh sống cùng mẹ đẻ tại số nhà B, đường H, tổ F, phường B, thành phố L. Việc anh T cho rằng vợ chồng đã ly thân là có căn cứ. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn. Vì vậy căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Bàn Thanh T đối với chị Đặng Thị H là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống anh Bàn Thanh T và chị Đặng Thị H không có con chung không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Anh Bàn Thanh T và chị Đặng Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Anh Bàn Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
Từ những nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Bàn Thanh T
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Bàn Thanh T và chị Đặng Thị H. Quan hệ hôn nhân của anh Bàn Thanh T và chị Đặng Thị H được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Anh Bàn Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn. Xác nhận anh T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000522 ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai được trừ vào tiền án phí phải nộp.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Nơi nhận:
| TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Tuyết Lanh |
4
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về kiện ly hôn
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện "Ly hôn" giữa anh Bàn Thanh T và chị Đặng Thị H
