Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày 12 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm;

Bà Bùi Thị Hảo.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đào Thúy Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLHS ngày 20 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXX-ST ngày 28/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Họ và tên: Đỗ Thế T, tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam; sinh ngày 05/10/1980; tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay : Thôn Y, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Đoàn thể đảng phái: Không; Con ông Đỗ Chí T1 - sinh năm 1952, đã chết; Con bà Trần Thị V - sinh năm 1954, hiện ở xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Bị cáo có vợ là Lê Thị H - sinh năm 1985; Bị cáo có 03 con, người con lớn nhất sinh năm 2005, người con nhỏ sinh năm 2013; Vợ và con bị cáo nay ở xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Anh chị em ruột: Bị cáo gia đình bị cáo có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/3/2024 đến ngày 08/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang được tại ngoại tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Kim D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; sinh ngày 19/7/1982 tại thành phố Hà Nội; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số H, ngõ B, tổ B, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể đảng phái: Không; Con ông Nguyễn Văn B - sinh năm 1954; Con bà Hà Thị P - sinh năm 1951; bố mẹ bị cáo ở tại phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Bị cáo có chồng Nguyễn Tấn T2 - sinh năm 1973; bị cáo có 2 con, người con lớn nhất sinh năm 2007, người con nhỏ sinh năm 2014; Chồng và các con bị cáo nay ở phường Q, quận C, thành phố Hà Nội; A, chị, em ruột: Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ ba;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang ở phường Q, quận C, thành phố Hà Nội.

3. Họ và tên: Thiều Việt D1; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; - sinh ngày 10/4/1983 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Thôn P Trong, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi tạm trú: Khu H, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể đảng phái: Không; con ông Thiều Kim T3 - sinh năm 1955; con bà Phan Thị L - sinh năm 1958; Bố, mẹ bị cáo nay ở xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; bị cáo có vợ Đỗ Thị Phong L1 - sinh năm 1985; bị cáo có 3 con, người con lớn nhất sinh năm 2007, người con nhỏ sinh năm 2015; Vợ và con bị cáo nay ở xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; A, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 3 anh, em, bị cáo là con thứ nhất;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 08/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, nay đang được tại ngoại tại xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

4. Họ và tên: Bùi Xuân Q, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 28/8/1984 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: TDP L, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Đoàn thể đảng phái: Không; con ông Bùi Văn N - sinh năm 1951, hiện ở thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; con bà Lê Thị K, đã chết; bị cáo có vợ là Đỗ Thị T4 - sinh năm 1993; bị cáo có 3 con, người con lớn nhất sinh năm 2011, người con nhỏ sinh năm 2015; Vợ và con bị cáo ở tại thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; A, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 3 anh chị em, bị cáo là con thứ ba;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/3/2024 đến ngày 08/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, nay đang được tại ngoại ở thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 20 phút ngày 04/3/2024, tại nơi ở của Võ Thị Đ - sinh năm 1985, ở khu A, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Cơ quan Cánh sát điều tra - Công an tỉnh P phát hiện, bắt quả tang Thiều Việt D1 thực hiện hành vi sử dụng điện thoại di động, nhắn tin đánh các số lô đề với Đỗ Thế T, đã thu giữ của D1 01 điện thoại di động sử dụng nhắn tin lô đề.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Thế T, thu giữ 02 điện thoại, lắp sim có tin nhắn số lô, đề với Thiều Việt D1, Bùi Xuân Q và Nguyễn Thị Kim D, cụ thể như sau:

Do muốn có tiền và hưởng chênh lệch thắng thua lô đề nên D1, Q và D thỏa thuận, quy ước với T để đánh bạc dưới hình thức gửi tin nhắn qua điện thoại di động; một điểm lô tính 23.000 đồng, nếu trúng thưởng sẽ được hưởng 80.000 đồng/1 điểm lô; Lô xiên 2 nếu trúng thưởng được hưởng gấp 10 lần số tiền đánh, lô xiên 3 được hưởng gấp 40 lần và lô xiên 4 được trả gấp 100 lần số tiền đã đánh; Với số đề nếu trúng đề sẽ được hưởng gấp 70 lần số tiền đã đánh; Số 3 càng nếu trúng thưởng sẽ được hưởng gấp 400 lần số tiền đã đánh; Việc xác định trúng số lô, đề được căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng trong ngày để xác định thắng, thua và thanh toán; Số đề trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt; Số 3 càng trúng thưởng được tính là trùng với 3 số cuối của giải đặc biệt; Số lô trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số; Số lô xiên 2, 3, 4 trúng thưởng được tính là trùng với 2,3 và 4 cặp số lô tô 2 số là các số cuối của giải mở thưởng. Sau khi có kết quả người chơi sẽ tự đối chiếu, thanh toán thắng thua. Theo quy ước này, các bị can thực hiện hành vi đánh bạc với nhau như đã nêu trên, tiền thắng thua sẽ thanh toán sau. Cùng ngày 04/3/2024 các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc:

Ngày 04/3/2024, Thiều Việt D1 sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus, lắp sim 0392569029 gửi 6 tin nhắn có nội dung các số lô, đề đến sim thuê bao 0332659596 lắp trong điện thoại Samsung Galaxy S22 Ultra của Đỗ Thế T, tổng số tiền lô đề là 13.900.000 đồng. T trả lời xác nhận tin nhắn. Khi D1 đang sử dụng ma túy tại nơi ở của Võ Thị Đ thì bị bắt quả tang hồi 18 giờ 20 phút cùng ngày 04/3/2024 và thu giữ điện thoại nhắn tin lô đề như đã nêu trên. Tổng số tiền D1 đánh bạc với T là 13.900.000 đồng.

Bùi Xuân Q sử dụng điện thoại S1 10 màu trắng xanh, lắp sim 0374653493 nhắn 3 tin nhắn các số lô, đề đến số 0332659596 của Đỗ Thế T, tổng số tiền lô đề là 9.370.000 đồng. T trả lời xác nhận tin nhắn. Sau đó, T lại gửi 5 tin nhắn lô đề với Q, tổng số tiền là 2.450.000 đồng. Q xác nhận tin và giữ lại thanh toán thắng thua với T. Như vậy, tổng số tiền Q đánh bạc với T là 11.820.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ điện thoại của Bùi Xuân Q sử dụng đánh lô đề.

Nguyễn Thị Kim D sử dụng điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh đen, lắp sim 0988293193 đăng nhập tài khoản Telegram để gửi 9 tin nhắn lô đề đến tài khoản Telegram của Đỗ Thế T, được đăng nhập từ điện thoại S1 S21 Ultra 5G, lắp sim 0346352868, tổng số tiền lô đề là 37.210.000 đồng. T xác nhận lại tin nhắn với D. Ngày 06/3/2024, Nguyễn Thị Kim D đến Cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp điện thoại sử dụng đánh lô, đề. Tổng số tiền D đánh bạc với T là 37.210.000 đồng.

Đỗ Thế T đánh bạc với Thiều Việt D1 số tiền 13.900.000 đồng, đánh bạc với Bùi Xuân Q số tiền là 11.820.000 đồng, đánh bạc với Nguyễn Thị Kim D số tiền là 37.210.000 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc là 62.930.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ 2 điện thoại di động sử dụng đánh lô đề của Trung

Tiền đánh bạc các bị cáo chưa thanh toán với nhau.

Ngoài ra, Đỗ Thế T còn sử dụng thuê bao 0332659596 để gửi 8 tin nhắn lô đề đến số điện thoại 0862.316.xxx của một người đàn ông T khai tên là L2 nhưng không biết địa chỉ ở đâu với tổng số tiền là 11.975.000 đồng, đã xác nhận tin nhắn. Cơ quan điều tra đã tra cứu thông tin chủ thuê bao là Bùi Văn S - sinh năm 1977, ở thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh S không sử dụng, đăng ký, quản lý số thuê bao trên. Do vậy, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố đối với Đỗ Thế T về số tiền đánh bạc với L2, tuy nhiên tài liệu có trong hồ sơ không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với T về hành vi đánh bạc với L2 nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Đỗ Thế T, Nguyễn Thị Kim D, Thiều Việt D1 và Bùi Xuân Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, bị can D, D1 và Q phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thiều Việt D1 có bố vợ là ông Đỗ Quốc P1 được tặng thưởng huân chương hạng 3. Đỗ Thế T có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3; Bùi Xuân Q có bố đẻ được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất và huân chương chiến công giải phóng hạng 3; Q còn có giấy ghi nhận công đức vào việc tu bổ lăng đình thờ ở làng D, xã C, huyện L 01 bàn đá, 02 lư hương và đôn đá. Bị cáo D đầu thú tại Cơ quan điều tra.

* Vật chứng và tài sản thu giữ; cơ quan điều tra đã thu giữ của:

  • - Thiều Việt D1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng nhạt, số imei 359217073954759, lắp sim 0392569029;
  • - Bùi Xuân Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10, màu trắng xanh, số imei 351591115946991, lắp sim 0374653493;
  • - Nguyễn Thị Kim D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen, số imei 355565705824632, lắp sim 0988293193;
  • - Đỗ Thế T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra màu xanh, số imei 353748822263015, lắp sim 0332659596; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, màu nâu đậm, số imei 354505622514628, lăp sim 0346352868;

Thiều Việt D1 đã tự nguyện nộp số tiền 13.900.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000316 ngày 26/4/2024; Đỗ Thế T tự nguyện nộp số tiền 14.425.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000315 ngày 26/4/2024; Bùi Xuân Q tự nguyện nộp số tiền 9.370.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000317 ngày 26/4/2024; Nguyễn Thị Kim D tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000318 ngày 26/4/2024.

Các bị cáo đều nộp tiền tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

* Về điều kiện kinh tế:

Đỗ Thế T và vợ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 951, tờ bản đồ số 5, diện tích 151 m² trên đất có xây nhà 3 tầng. Ngoài ra, T còn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 10, tờ bản đồ số 10, diện tích 191,7 m². Hai thửa đất đều có địa chỉ ở thôn Y, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc,

Thiều Việt D1 và vợ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất 100m² tại thửa số 486, tờ bản đồ số 9, thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;

Bùi Xuân Q đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 330, tờ bản đồ số 56, diện tích 53,2 m² ở T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, trên đất có nhà cấp bốn.

Nguyễn Thị Kim D không có tài sản gì có giá trị ngoài những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và tỏ thái độ rất ân hận và ăn năn về hành vi vi phạm pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thế T, Nguyễn Thị Kim D, Thiều Việt D1 và Bùi Xuân Q phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng điểm b khoản 2 điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thế T;

Xử phạt bị cáo T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Thế T từ 20.000.000đ đến 30.000.000₫.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim D, Thiều Việt D1 và Bùi Xuân Q.

Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim D từ 25.000.000đ đến 30.000.000₫.

Phạt tiền đối với bị cáo Thiều Việt D1 và Bùi Xuân Q từ 20.000.000đ đến 25.000.000₫.

Thời hạn các bị cáo phải nộp tiền một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

-Xử lý vật chứng; Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1 điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tài sản là công cụ phạm tội đối với các bị cáo:

  • - Thiều Việt D1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng nhạt, số imei 359217073954759;
  • - Bùi Xuân Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10, màu trắng xanh, số imei 351591115946991;
  • - Nguyễn Thị Kim D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen, số imei 355565705824632;
  • - Đỗ Thế T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra màu xanh, số imei 353748822263015; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, màu nâu đậm, số imei 354505622514628;

Tịch thu để tiêu hủy tài sản là các vật chứng do không còn giá trị sử dụng đối với các bị cáo:

  • - Thiều Việt D1: 01 sim điện thoại số 0392.569.xxx;
  • - Bùi Xuân Q: 01 sim điện thoại số 0374.653.xxx;
  • - Nguyễn Thị Kim D: 01 điện thoại số sim 0988.293.xxx;
  • - Đỗ Thế T: 01 sim điện thoại số 0332.659.xxx và 01 sim điện thoại số 0346.352.xxx.

Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 20 tháng 6 năm 2024.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước các tài sản là tiền mà các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội đối với các bị cáo:

  • - Thiều Việt D1 số tiền 13.900.000 đồng, D1 đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000316 ngày 26/4/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Bùi Xuân Q số tiền 9.370.000 đồng, Q đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000317 ngày 26/4/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Nguyễn Thị Kim D số tiền 37.210.000đ; D đã nộp số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000318 ngày 26/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ và số tiền 32.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0000515 ngày 12/7/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ, tổng số tiền D đã nộp là 42.000.000₫ (Còn 4.790.000₫ đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án);
  • - Đỗ Thế T số tiền 2.450.000đ; T đã nộp số tiền 14.425.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000315 ngày 26/4/2024 của cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ (Còn 11.975.000đ đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án);

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận;

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều rất ân hận về hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  2. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian địa điểm nơi xảy ra vụ án, phù hợp với các vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo D, Dũng Q1 và T đã phạm tội đánh bạc, cụ thể: Vào hồi 18 giờ 20 phút, ngày 04/3/2024, tại khu A, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Thiều Việt D1 gửi tin nhắn qua điện thoại di động, nội dung các số lô đề với Đỗ Thế T, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 13.900.000 đồng, Đỗ Thế T còn có hành vi đánh bạc với Bùi Xuân Q với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 11.820.000 đồng; Đỗ Thế T đánh bạc với Nguyễn Thị Kim D, số tiền dùng dánh bạc là 37.210.000 đồng; Như vậy, Đỗ Thế T phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đánh bạc với D1, Q và D là 62.930.000 đồng; Do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân; Vì vậy hành vi đánh bạc của các bị cáo cần phải được xử lý theo quy định của pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
  4. Về nhân thân của các bị cáo:

Các bị cáo trước khi phạm tội đều là người có nhân thân tốt, luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của nhà nước và các quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú và qua xem xét lý lịch thì thấy các bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng.

  1. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo D, D1 và Q phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo D1, T và Q còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là: Bị cáo Thiều Việt D1 có bố vợ là ông Đỗ Quốc P1 được tặng thưởng huân chương hạng 3, bị cáo Đỗ Thế T có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3; bị cáo Bùi Xuân Q có bố đẻ được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất và huân chương chiến công giải phóng hạng 3; bị cáo Q còn có giấy ghi nhận công đức vào việc tu bổ lăng đình thờ ở làng D, xã C, huyện L 01 bàn đá, 02 lư hương và đôn đá. Bị cáo D đầu thú tại Cơ quan điều tra.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình như nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, trên cơ sở thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cũng như thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật hình sự đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, do đó chưa cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội; Đối với bị cáo T, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo; Còn các bị cáo D, D1 và Q, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, cũng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành người tốt; Tuy nhiên các bị cáo sử dụng số tiền để thực hiện hành vi phạm tội khác nhau do đó các bị cáo phải chịu mức hình phạt là khác nhau.

  1. Về hình phạt bổ sung:

Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  1. Về vật chứng: Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng như đã nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  1. Trong vụ án này Đỗ Thế T còn sử dụng thuê bao 0332659596 để gửi 8 tin nhắn lô đề đến số điện thoại 0862.316.xxx của một người đàn ông T khai tên là L2 nhưng không biết địa chỉ ở đâu với tổng số tiền là 11.975.000 đồng; Cơ quan điều tra đã tra cứu thông tin chủ thuê bao là Bùi Văn S - sinh năm 1977, ở thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Anh S không sử dụng, đăng ký, quản lý số thuê bao trên; Do vậy chưa có căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với T về hành vi đánh bạc với L2, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b, khoản 2 điều 321 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với bị cáo Đỗ Thế T.

Áp dụng khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 35 Bộ luật Hình sự; Điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim D, Thiều Việt D1 và Bùi Xuân Q.

Tuyên bố các bị cáo: Đỗ Thế T, Nguyễn Thị Kim D, Thiều Việt D1 và Bùi Xuân Q phạm tội Đánh bạc.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Thế Trung 3 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thế T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đỗ Thế T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Đỗ Thế T thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đỗ Thế T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đỗ Thế T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Thế T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Thời hạn bị cáo phải nộp tiền một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

- Xử phạt tiền là hình phạt chính đối với:

  • + Bị cáo Nguyễn Thị Kim D 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);
  • + Bị cáo Thiều Việt D1 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng);
  • + Bị cáo Bùi Xuân Q 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);

Thời hạn các bị cáo phải nộp tiền một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

- Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đỗ Thế T, Nguyễn Thị Kim D, Thiều Việt D1 và Bùi Xuân Q.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước các tài sản là vật mà các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội đối với:

  • Bị cáo Đỗ Thế T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra màu xanh, số imei 353748822263015, lắp sim 0332659596; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, màu nâu đậm, số imei 354505622514628, lăp sim 0346352868;
  • Bị cáo Nguyễn Thị Kim D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen, số imei 355565705824632, lắp sim 0988293193;
  • Bị cáo Thiều Việt D1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng nhạt, số imei 359217073954759, lắp sim 0392569029;
  • Bị cáo Bùi Xuân Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10, màu trắng xanh, số imei 351591115946991, lắp sim 0374653493;

Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 20 tháng 6 năm 2024.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tài sản là tiền mà các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội đối với:

  • Bị cáo Thiều Việt D1 số tiền 13.900.000 đồng; Xác nhận bị cáo D1 đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000316 ngày 26/4/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • Bị cáo Bùi Xuân Q số tiền 9.370.000 đồng; Xác nhận bị cáo D1 đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000317 ngày 26/4/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • Bị cáo Nguyễn Thị Kim D số tiền 37.210.000đồng; Xác nhận bị cáo D đã nộp số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000318 ngày 26/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ và nộp số tiền 32.000.000đồng theo biên lai thu tiền số 0000515 ngày 12/7/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ, tổng số tiền bị cáo D đã nộp là 42.000.000đ; Tạm giữ số tiền còn lại của bị cáo Nguyễn Thị Kim D là 4.790.000₫ (Bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án;
  • Bị cáo Đỗ Thế T số tiền 2.450.000đ; Xác nhận bị cáo T đã nộp số tiền 14.425.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000315 ngày 26/4/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ; Tạm giữ số tiền còn lại của bị cáo Đỗ Thế T là 11.975.000đ (Mười một triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án;

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, khoản 1 điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc Đỗ Thế T, Nguyễn Thị Kim D, Thiều Việt D1 và Bùi Xuân Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - PC 04 CA tỉnh Phú Thọ;
  • - PV 06 Công an tỉnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Thi hành án Hình sự;
  • - UBND nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HS,AV,VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger