TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 10 – 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thiên Viết và ông Lưu Ngọc Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức K,T
gọi khác: Không; sinh năm 1994 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1975; có 01 con, sinh năm 2014.
Nhân thân: Ngày 05/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích.
Ngày 22/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xử phạt 2 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 01/4/2021, đã được xóa án tích.
Bị bắt tạm ngày 16/5/2024 – có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Võ Văn V, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – văng mặt.
- Chị Đào Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/10/2013, ông Nguyễn Hồng C chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số BE 266303 được Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) huyện T cấp ngày 22/7/2011, diện tích 214m², tọa lạc tại thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông cho bà Hoàng Thị Minh H1. Ngày 27/8/2021, bà Hoàng Thị Minh H1 tiếp tục chuyển nhượng thửa đất nói trên cho chị Đào Thị H. Ngày 12/7/2023, chị H thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: GCNQSDĐ) số BE 266303 đối với thửa đất nói trên cho Ngân hàng N2, Chi nhánh tỉnh Đ, Phòng giao dịch huyện T để vay vốn số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng (đến ngày 12/7/2026 hết hạn).
Nguyễn Đức K với chị Đào Thị H mặc dù đã ly hôn nhưng hiện đang sống chung như vợ chồng, nên K biết việc bà H nhận chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất trên và có chụp hình lưu trong điện thoại cá nhân của K. Đến khoảng đầu tháng 12/2023, K nảy sinh ý định làm giả GCNQSDĐ số BE 266303 mang tên của K để thế chấp vay tiền. Sau đó, K dùng tài khoản Facebook “Bố Việt A” lên mạng xã hội Facebook vào trang “làm giấy tờ, giấy phép lái xe, giấy tờ tùy thân” cung cấp thông tin cá nhân để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 266303; số vào sổ cấp GCN: CH 00707, do UBND huyện cấp ngày 22/7/2011, đã đăng ký thay đổi ngày 27/8/2021, mang tên Nguyễn Đức K với giá 8.000.000 đồng. Sau khi nhận được GCNQSDĐ đặt làm giả, K liên hệ với anh Võ Văn V, sinh năm 1991 thường trú tại TDP C, Thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để vay số tiền 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, do vay số tiền lớn nên anh V yêu cầu K phải làm thủ tục ủy quyền đối với GCNQSDĐ số BE 266303 mang tên Nguyễn Đức K cho anh V.
Ngày 11/12/2023, K dẫn anh V đến thửa đất để xem đất. Anh V yêu cầu K ra Văn phòng công chứng Võ Thị Thanh H2, tại thôn C, xã Đ để làm hợp đồng ủy quyền. Sau khi tiếp nhận hồ sơ Công chứng viên Nguyễn Hồ Phương N1 nhận thấy GCNQSDĐ số BE 266303 mang tên Nguyễn Đức K chưa phù hợp theo quy định của pháp luật (nghi là GCNQSDĐ được làm giả) nên báo cáo Chi nhánh Văn phòng Đ để xác minh theo thẩm quyền. Qua kiểm tra đối chiếu hồ sơ lưu trữ, Chi nhánh Văn phòng Đ phát hiện GCNQSD đất nêu trên trùng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BE 266303 được UBND huyện cấp ngày 22/7/2011 được lưu tại kho lưu trữ của Chi nhánh Văn phòng Đ, mang tên chị Đào Thị H, sinh năm 1991 trú tại thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, chi nhánh Văn phòng Đ đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 156 ngày 28/3/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:
- Chữ ký mang tên Nguyễn Ngọc L và hình dấu có nội dung U.B.N.D huyện T, tỉnh Đăk Nông dưới mục: Phó chủ tịch trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Nguyễn Ngọc L và hình dấu có nội dung U.B.N.D huyện T, tỉnh Đăk Nông trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M5) không phải do cùng một người ký ra. Không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Chữ ký mang tên Nguyễn Thành T1 và hình dấu có nội dung Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Đăk Nông bên phần xác nhận chuyển nhượng ngày 25/10/2013 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Nguyễn Thành T1 và hình dấu có nội dung Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Đăk Nông trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M6 đến M10) không phải do cùng một người ký ra. Không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Chữ ký mang tên Nguyễn Xuân T2 và hình dấu có nội dung Chi nhánh Văn phòng Đ bên phần xác nhận chuyển nhượng ngày 27/8/2021 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Nguyễn Xuân T2 và hình dấu có nội dung Chi nhánh Văn phòng Đ trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M11 đến M15) không phải do cùng một người ký ra. Không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Phôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cần giám định (ký hiệu A) là giả.
Tại Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Nguyễn Đức K về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xác định: Khoảng tháng 12/2023, Nguyễn Đức K có hành vi cung cấp thông tin cá nhân để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BE 266303 mang tên Nguyễn Đức K với giá 8.000.000 đồng trên tài khoản mạng facebook. Sau khi nhận được giấy chứng nhận giả, ngày 11/12/2023, K mang giấy chứng nhận trên đến gặp anh Võ Văn V để cầm cố vay số tiền 200.000.000 đồng, trong lúc tại làm hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C1 thì bị phát hiện; hành vi của bị cáo Nguyễn Đức K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự; đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s, t khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số BE 266303; số vào sổ cấp GCN: CH 00707, do UBND huyện cấp ngày 22/7/2011, đã đăng ký thay đổi ngày 27/8/2021, mang tên ông Nguyễn Đức K là vật chứng nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan; bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng tháng 12/2023, Nguyễn Đức K nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền; K dùng tài khoản mạng Facebook cung cấp thông tin cá nhân và hình ảnh của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 266303 mang tên Nguyễn Đức K với giá 8.000.000 đồng. Ngày 11/12/2023, K mang giấy chứng nhận trên đến gặp anh Võ Văn V để cầm cố vay số tiền 200.000.000 đồng, trong lúc tại làm hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C1 thì bị phát hiện. Tại bản kết luận giám định số 156 ngày 28/3/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: “Phôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cần giám định (ký hiệu A) là giả”. Vì vậy, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức là có căn cứ pháp luật.
Khoản 1, Điều 341 Bộ luật hình sự quy định.
“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
”
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có văn bản đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đã có tin báo có giá trị phục vụ việc bắt giữ, khởi tố đối tượng có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bon Đ, xã Đ; có ông nội là ông Nguyễn Văn T3 được tặng Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất và Huân chương Chiến công hạng Nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, t khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kết hợp tình tiết giảm nhẹ nêu trên để Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có quyền sử dụng đất hay tài sản gắn liền với đất; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Đối với người làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xác định điện thoại sử dụng để đăng nhập vào tài khoản facebook của Nguyễn Đức K đã bị mất nên không có căn cứ xác minh. Vì vậy, tách ra tiếp tục điều tra khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/5/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đức K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm liên quan quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Quang Trung |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự sơ thẩm (làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
