Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/DS-ST

Ngày: 10/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phạm Thị Lệ Hoa

- Ông Trương Văn Sắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh, thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang: không tham gia phiên toà.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2024/TLST- DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K

Địa chỉ: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Trung V. Chức vụ: Phó tổng giám đốc.

Người đại diện uỷ quyền lại tham gia tố tụng: Ông Đào Trung G – Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ khu vực - Phòng xử lý nợ Ngân hàng TMCP K. Theo Quyết định số 2400/QĐ-NHKL ngày 27/8/2024 về việc uỷ quyền thực hiện các công việc liên quan đến công tác xử lý nợ. (Có mặt)

* Bị đơn: 1/Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

2/ Bà Sử Thị N, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Bùi Thanh V1, sinh năm: 1977 (Vắng mặt)

1

2/ Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm: 1977 (Vợ ông V1) (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

3/ Chị Nguyễn Sử Như Ý, sinh ngày 7/3/2006 (Con ông N, bà Đ) (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K là Đào Trung G trình bày:

Nguyên trước đây ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N có đến Ngân hàng TMCP K – Phòng G1 (Sau đây gọi tắt là ngân hàng) vay tổng số tiền 150.000.000₫ (Một trăm năm mươi triệu đồng) theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cụ thể như sau:

  • - Số tiền vay: 150.000.000 đ (Một trăm năm mươi triệu đồng)
  • - Mục đích vay: sản xuất lúa, chăn nuôi
  • - Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
  • - Ngày giải ngân: 09/4/2019
  • - Lãi suất vay: 11.50%/năm áp dụng đối với các KUNN giải ngân trong vòng 30 ngày. Kể từ tháng thứ 04 tính từ ngày giải ngân theo từng KUNN, lãi suất vay của các KUNN sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần và Lãi suất vay điều chỉnh được tính như sau: Lãi suất vay bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP K tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng (+) biên độ 3.80%/năm và không được thấp hơn lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay).
  • - Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn
  • - Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm
  • - Hình thức thanh toán: Trả đầy đủ vốn và lãi vay khi đáo hạn.

Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 228/19/HDTC-BDS/1002-5128 ngày 08/4/2019 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N và được Phòng C, tỉnh Kiên Giang chứng nhận ngày 08/4/2019, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm:

  • - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số: AN 265910; Số vào sổ: H01519; Tổng diện tích: 1.875m²; Mục đích sử dụng: Đất ở, đất trồng cây lâu năm khác thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18. Thời hạn sử dụng 05/2053.

2

Toạ lạc tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang do UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ.

Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 08/4/2019.

Trong quá trình vay vốn, ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Sử Thị N liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Sử Thị N không có thiện chí hợp tác thanh toán nợ cho Ngân hàng và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Sử Thị N vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Tạm tính đến ngày 10/9/2024, ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N còn nợ ngân hàng tổng số tiền cụ thể là:

  • - Vốn gốc: 150.000.000₫
  • - Lãi trong hạn: 19.703.836₫
  • - Lãi quá hạn: 130.416.781₫
  • - Tiền phạt chậm trả lãi: 9.212.218₫
  • - Tổng cộng: 309.332.834₫ (Ba trăm lẽ chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng).

Nay tại phiên toà, Ngân hàng TMCP K yêu cầu Toà án giải quyết:

- Yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N trả cho Ngân hàng TMCP K một lần tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 309.332.834₫ (Ba trăm lẽ chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó L trong hạn: 19.703.836₫, Lãi quá hạn: 130.416.781đ, T phạt chậm trả lãi: 9.212.218đ và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 11/9/2024 theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Ngay khi ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K có trách nhiệm trả lại cho bà ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 265910; Số vào sổ: H01519 đối với tổng diện tích: 1.875m² thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang do UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ.

Trường hợp sau khi bản án hoặc Quyết định có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Sử Thị N không trả hoặc trả không đầy đủ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có tổng diện

3

tích 1.875m² thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 265910; Số vào sổ: H01519 được UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ theo thoả thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 228/19/HDTC-BDS/1002-5128 ngày 08/4/2019 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, Ngân hàng TMCP K không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

Tại bản tự khai bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ trình bày: Nguyên trước đây vợ chồng ông là Nguyễn Hoàng ĐSử Thị N có đến Ngân hàng TMCP K – Phòng G1 (Sau đây gọi tắt là ngân hàng) vay tổng số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cụ thể như sau:

  • - Số tiền vay: 150.000.000dd (Một trăm năm mươi triệu đồng)
  • - Mục đích vay: sản xuất lúa, chăn nuôi
  • - Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
  • - Ngày giải ngân: 09/4/2019
  • - Lãi suất vay: 11.50%/năm áp dụng đối với các KUNN giải ngân trong vòng 30 ngày. Kể từ tháng thứ 04 tính từ ngày giải ngân theo từng KUNN, lãi suất vay của các KUNN sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần và Lãi suất vay điều chỉnh được tính như sau: Lãi suất vay bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP K tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng (+) biên độ 3.80%/năm và không được thấp hơn lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay).
  • - Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn
  • - Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm
  • - Hình thức thanh toán: Trả đầy đủ vốn và lãi vay khi đáo hạn

Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 228/19/HDTC-BDS/1 002-5128 ngày 08/4/2019 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N và được Phòng C, tỉnh Kiên Giang chứng nhận ngày 08/4/2019, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm:

  • Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số: AN 265910; Số vào sổ: H01519; Tổng diện tích: 1.875m²; Mục đích sử dụng: Đất ở, đất trồng cây lâu năm khác; Thửa đất số:219C; Tờ bản đồ số: 18. Thời hạn sử dụng: 05/2053. Toạ

4

lạc tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang do UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008.

Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 08/4/2019.

Trong quá trình vay vốn, do làm ăn thất bại nên vợ chồng liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn cho Ngân hàng theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Nay ông thừa nhận Tạm tính đến ngày 19/9/2023, vợ chồng ông, bà còn nợ Ngân hàng tổng số tiền cụ thể là:

  • - Vốn gốc: 150.000.000₫
  • - Lãi trong hạn: 19.703.836₫
  • - Tiền phạt chậm trả lãi: 6.791.075₫
  • - Lãi quá hạn: 101.587.808₫
  • - Tổng cộng: 278.082.719₫ (Hai trăm bảy mươi tám triệu, không trăm tám mươi hai nghìn, bảy trăm mười chín đồng).

Ngoài ra, khoảng năm 2015 – đến năm 2016 vợ chồng ông, bà có làm giấy tay chuyển nhượng cho vợ chồng ông Bùi Thanh V1 và bà Nguyễn Thị Đ1 (Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang) một phần đất ngang 5 m x dài 116 m = tổng diện tích khoảng 580 m² nằm trong diện tích đất 1.875 m² thuộc thửa số 219C, tờ bản đồ 18 toạ lạc tại ấp T, huyện T, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên Nguyễn Hoàng Đ. Giá chuyển nhượng là 150.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng xong thì vợ chồng ông V1, bà Đ1 cất căn nhà ngang 7 m x dài 30 để ở và sử dụng cho đến nay. Khi nhận chuyển nhượng thì ông V1, bà Đ1 có yêu cầu vợ chồng ông làm thủ tục tách thửa sang tên đối với phần đất chuyển nhượng nhưng do cần vốn làm ăn nên vợ chồng ông nói với vợ chồng ông V1, bà Đ1 cho vợ chồng ông mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gốc để vay vốn Ngân hàng. Sau đó, do làm ăn thất bại nên vợ chồng ông không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện ra Toà án.

Nay theo yêu cầu của khởi kiện của Ngân hàng vợ chồng ông có ý kiến như sau:

Vợ chồng ông thừa nhận Tạm tính đến ngày 19/9/2023, vợ chồng ông còn nợ ngân hàng tổng số tiền cụ thể là: 278.082.719₫ (Hai trăm bảy mươi tám triệu không trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm mười chín đồng) và lãi suất phát sinh theo thoả thuận kể từ ngày 20/9/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ và vợ chồng ông đồng ý trả số tiền nợ này cho Ngân hàng TMCP K. Tuy nhiên, do hoàn cảnh

5

kinh tế đang gặp khó khăn nên ông yêu cầu Ngân hàng giãm lãi và cho thêm thời gian để vợ chồng ông có điều kiện xoay sở tiền trả nợ cho Ngân hàng.

Đối với phần đất vợ chồng ông chuyển nhượng ngang 5 m x dài 116 m = tổng diện tích khoảng 580 m² nằm trong diện tích đất 1,875 m² thuộc thửa số 219C, tờ bản đồ 18 toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cho ông V1, bà Đ1 và căn nhà ngang 7 m x dài 30 gắn liền trên phần đất chuyển nhượng thì vợ chồng ông không có tranh chấp gì đối với ông V1, bà Đ1. Vợ chồng ông sẽ tự thương lượng với ông V1, bà Đ1 để giải quyết. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được vợ chồng ông sẽ tranh chấp với ông V1, bà Đ1 thành vụ kiện khác.

Ngoài ra, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Sử Thị N: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập bà N tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng bà N đều không có mặt và không có lời trình bày.

Tại bản tự khai Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thanh V1 và bà Nguyễn Thị Đ1 trình bày: Nguyên trước đây (khoảng năm 2015 – đến năm 2016) vợ chồng ông, bà có làm giấy tay chuyển nhượng với vợ chồng ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N để nhận chuyển nhượng một phần đất ngang 5 m x dài 116 m = tổng diện tích khoảng 580 m² nằm trong diện tích đất 1.875 m² thuộc thửa số 219C, tờ bản đồ 18 toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên Nguyễn Hoàng Đ. Giá chuyển nhượng là 150.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng xong thì vợ chồng ông, bà cất căn nhà ngang 7 m x dài 30 m để ở và sử dụng cho đến nay. Khi nhận chuyển nhượng thì ông, bà có yêu cầu ông Đ và bà N làm thủ tục tách thửa sang tên đối với phần đất chuyển nhượng nhưng do bà N là em ruột của bà Nguyễn Thị Đ1 nên bà N nói với vợ chồng ông, bà là tạm thời cho bà N mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gốc để vay vốn Ngân hàng với số tiền 30.000.000 đồng. Do là chỗ chị em ruột thịt nên vợ chồng ông, bà cũng không có ý kiến gì đối với việc bà N, ông Đ mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp Ngân hàng vay vốn sau khi đã chuyển nhượng đất cho ông, bà. Từ ngày bà N, ông Đ mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp cho Ngân hàng thì vợ chồng ông, bà cũng không có nhắc nhở gì nữa đến việc yêu cầu bà N, ông Đ làm thủ tục tách thửa sang tên đất chuyển nhượng. Sau này ông, bà lại nghe nói là bà N vay Ngân hàng đến 150.000.000 đồng và hiện nay không có khả năng trả.

6

Hiện tại trên phần đất bà N, ông Đ thế chấp cho Ngân hàng thì chỉ có căn nhà của vợ chồng ông, bà đang ở và căn nhà của vợ chồng bà N, ông Đ cùng các con là Nguyễn Sử Như Ý, sinh ngày 7/3/2006 và Nguyễn Sử Cát T1, sinh năm 2013 đang ở, ngoài ra không còn ai khác sinh sống trên phần đất này.

Nay theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K vợ chồng ông, bà có ý kiến như sau:

Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc đòi nợ vay tín dụng và phát mãi tài sản thế chấp là đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích 1.875 m² thuộc thửa số 219C, tờ bản đồ 18 toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên Nguyễn Hoàng Đ thì vợ chồng ông, bà không có ý kiến gì, yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với phần đất vợ chồng ông, bà nhận chuyển nhượng ngang 5 m x dài 116 m = tổng diện tích khoảng 580 m² nằm trong diện tích đất 1,875 m² thuộc thửa số 219C, tờ bản đồ 18 toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang của ông Đ, bà N và căn nhà ngang 7 m x dài 30 gắn liền trên phần đất chuyển nhượng thì vợ chồng ông, bà không có tranh chấp gì đối với ông ĐN. Vợ chồng ông, bà sẽ tự thương lượng với ông Đ, bà N để giải quyết. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được vợ chồng ông sẽ khởi kiện ông Đ, bà N thành vụ kiện khác.

Ngoài ra, vợ chồng ông, bà không có ý kiến gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Sử Như Ý: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập chị Ý tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng chị Ý đều không có mặt và không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên nhưng ông Đ, bà N chưa thanh toán. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

7

Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Bùi Thanh V1 và bà Nguyễn Thị Đ1, chị Nguyễn Sử Như Ý mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Phía Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP K đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, bà N, ông V1, bà Đ1 và chị Ý.

[4] Về nội dụng: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K. Hội đồng xét xử xét thấy, theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, trước đây ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N có đến Ngân hàng TMCP K - Phòng G1 vay số tiền gốc 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cụ thể như sau:

  • - Số tiền vay: 150.000.000dd (Một trăm năm mươi triệu đồng)
  • - Mục đích vay: sản xuất lúa, chăn nuôi
  • - Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
  • - Ngày giải ngân: 09/4/2019
  • - Lãi suất vay: 11.50%/năm áp dụng đối với các KUNN giải ngân trong vòng 30 ngày. Kể từ tháng thứ 04 tính từ ngày giải ngân theo từng KUNN, lãi suất vay của các KUNN sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần và Lãi suất vay điều chỉnh được tính như sau: Lãi suất vay bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP K tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng (+) biên độ 3.80%/năm và không được thấp hơn lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay).
  • - Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn
  • - Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm
  • - Hình thức thanh toán: Trả đầy đủ vốn và lãi vay khi đáo hạn.

Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 228/19/HDTC-BDS/1002-5128 ngày 08/4/2019 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N và được Phòng C, tỉnh Kiên Giang chứng nhận ngày 08/4/2019, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có tổng

8

diện tích 1.875m² thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang theo giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 265910; Số vào sổ: H01519 được UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ.

Xét giao dịch của Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 nêu trên giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N được xác lập trên cở sở tự nguyện, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký, xác nhận của các bên, không bị lừa dối, hay cưỡng ép, không trái đạo đức xã hội nên giao dịch dân sự trên là phù hợp với quy định pháp luật.

Xét thấy mức lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp với Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT – NHNN ngày 30/12/2016 quy định hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Ngân hàng đã áp dụng tính tiền lãi đúng theo lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trong quá trình vay ông Đ, bà N đã nhận đủ số tiền vay là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), nhưng từ ngày vay cho đến nay ông Đ, bà N không đóng lãi và trả nợ gốc đầy đủ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Điều 11 của Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019. Do đó, Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 10/9/2024 với số tiền là 309.332.834₫ (Ba trăm lẽ chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó L trong hạn: 19.703.836đ, Lãi quá hạn: 130.416.781đ, T phạt chậm trả lãi: 9.212.218đ và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 11/9/2024 theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cho đến khi thanh toán dứt nợ là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

[5] Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 228/19/HDTC-BDS/1 002-5128 ngày 08/4/2019 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N và được Phòng C, tỉnh Kiên Giang chứng nhận ngày 08/4/2019, đồng thời được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T ngày 08/4/2019. Tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay

9

là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có tổng diện tích 1.875m² thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 265910; Số vào sổ: H01519 được UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ.

Xét về hình thức và nội dụng hợp đồng thế chấp, trình tự và thẩm quyền đăng ký thế chấp của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0095/2019/BĐ ngày 07/11/2019 nêu trên là phù hợp theo quy định tại các Điều 295, 297, 298, 317, 318, 319, 500, 502 Bộ luật dân sự 2015, khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành. Trong hợp đồng có giao kết về quyền và nghĩa vụ của các bên, điều kiện, thời hạn và phương thức xử lý tài sản thế chấp khi nghĩa vụ đến hạn mà người vay nợ không thực hiện. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu nếu ông Đ, bà N không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc bản án có hiệu lực pháp luật, thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp thu hồi nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với phần đất vợ chồng ông Bùi Thanh V1 và bà Nguyễn Thị Đ1 nhận chuyển nhượng của ông Đ, bà N có diện tích ngang 5 m x dài 116 m = tổng diện tích khoảng 580 m² nằm trong diện tích đất 1,875 m² thuộc thửa số 219C, tờ bản đồ 18 toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang và căn nhà ngang 7 m x dài 30 gắn liền trên phần đất chuyển nhượng thì vợ chồng ông V1, bà Đ1 với vợ chồng ông Đ, bà N xác định sẽ tự thương lượng để giải quyết, không có tranh chấp gì trong vụ kiện này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trong trường hợp các bên không thương lượng được thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

Từ những nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.

Buộc ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 10/9/2024 với số tiền là 309.332.834₫ (Ba trăm lẽ chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó L trong hạn: 19.703.836đ, Lãi quá hạn: 130.416.781đ, T phạt chậm trả lãi: 9.212.218đ và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 11/9/2024 theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 và ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-

10

5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 kể từ ngày 11/9/2024 cho đến khi thanh toán xong hết nợ.

Ngay khi ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 265910; Số vào sổ: H01519 đối với tổng diện tích: 1.875m² thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang do UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ.

Trường hợp sau khi bản án hoặc Quyết định có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Sử Thị N không trả hoặc trả không đầy đủ gốc và lãi của Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có tổng diện tích 1.875m² thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang theo giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 265910; Số vào sổ: H01519 được UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ theo thoả thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 228/19/HDTC-BDS/1002-5128 ngày 08/4/2019 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Sử Thị N phải chịu án phí trên số tiền 309.332.834 đồng (Ba trăm lẽ chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng) là 309.332.834 đồng x 5% đồng = làm tròn 15.467.000 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.952.000 đồng (Sáu triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003765 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 khoản 1 Điều 273; Điều 278 và

11

  • khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Áp dụng Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Áp dụng Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010
  • - Áp dụng Điều 13, Điều 21 Thông tư số: 39/2016/TT – NHNN ngày 30/12/2016 Quy định hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.

  • - Buộc ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N phải trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền nợ tính đến ngày 10/9/2024 với số tiền là 309.332.834 đồng (Ba trăm lẽ chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó L trong hạn: 19.703.836 đồng, L quá hạn: 130.416.781 đồng, T phạt chậm trả lãi: 9.212.218 đồng.
  • - Kể từ ngày 11/9/2024 ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cho đến khi thanh toán xong hết nợ cho Ngân hàng TMCP K.
  • - Ngay khi ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 265910; Số vào sổ: H01519 đối với tổng diện tích: 1.875m² thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang do UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ.
  • - Trường hợp sau khi bản án hoặc Quyết định có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Sử Thị N không trả hoặc trả không đầy đủ gốc và lãi của Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có tổng diện tích 1.875m² thuộc Thửa đất số 219C, Tờ bản đồ số 18, toạ lạc

12

tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang theo giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 265910; Số vào sổ: H01519 được UBND huyện T cấp ngày 26/11/2008 mang tên ông Nguyễn Hoàng Đ theo thoả thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 228/19/HDTC-BDS/1002-5128 ngày 08/4/2019 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

2. Về Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

  • - Ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Sử Thị N phải chịu án phí trên số tiền 309.332.834 đồng (Ba trăm lẽ chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng) là 309.332.834 đồng x 5% đồng = làm tròn 15.467.000 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.952.000 đồng (Sáu triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003765 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ và bà Sử Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Bùi Thanh V1 và bà Nguyễn Thị Đ1, chị Nguyễn Sử Như Ý có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện T;
  • - THA dân sự huyện T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 44/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ông Đ và bà N trả cho Ngân hàng TMCP K một lần tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 309.332.834đ (Ba trăm lẽ chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó Lãi trong hạn: 19.703.836đ, Lãi quá hạn: 130.416.781đ, Tiền phạt chậm trả lãi: 9.212.218đ và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 11/9/2024 theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 228/19/HDHM/1002-5128 ngày 08/4/2019 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 228/19/HDTD/1002-5128 ngày 09/4/2019 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger