Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 44/2024/KDTM-ST

Ngày: 09-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng mua

bán hàng hóa



NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Thanh Cần;
  • 2/ Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 09/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 46/2024/TLST-KDTM ngày 12 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-KDTM ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ: Lô B, 2F2 đường CN6, CN7, CN8 Khu công nghiệp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông LEE, MING-TSUNG – chức danh: Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A Tỉnh lộ 8, Khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 30/01/2024). Có đơn xin vắng mặt

Bị đơn: Công ty TNHH M (Việt Nam); địa chỉ: Thửa đất số 274; tờ bản đồ số 26, khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông CHIANG, JUNG CHUN – chức danh: Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 02/01/2023, Công ty TNHH S (Công ty S) và Công ty TNHH M (Công ty M) ký kết Hợp đồng kinh tế số VP/2023-04 về việc mua bán hàng hóa. Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty S đã 08 lần giao hàng cho Công ty M. Hai bên đã tiến hành xác nhận công nợ năm 2023, xác định số tiền Công ty M nợ là 576.758.733 đồng.

Do nhiều lần yêu cầu nhưng Công ty M không thanh toán, Công ty S đã khởi kiện Công ty M. Quá trình khởi kiện, ngày 15/4/2024 Công ty M đã thanh toán cho Công ty S số tiền 119.980.200 đồng.

Tính đến thời điểm hiện tại, Công ty M còn thiếu nợ Công ty S số tiền 456.778.533 đồng. Do đó Công ty S rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Công ty M phải thanh toán số tiền 456.778.533 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ cho bị đơn, triệu tập nhiều lần nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH M không có mặt, không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn không tham gia tố tụng là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Các đương sự đều có tư cách pháp nhân, tranh chấp với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh trọng hoạt động kinh doanh, thương mại và đều có mục đích lợi nhuận. Tại Hợp đồng kinh tế số VP/2023-04 các bên có thỏa thuận “Mọi trường hợp vi phạm hợp đồng, nếu hai bên không tự giải quyết được sẽ đưa ra Tòa án kinh tế tỉnh Bình Dương”. Tranh chấp của các đương sự thuộc khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, các đương sự thỏa thuận Tòa án cấp tỉnh giải quyết là trái quy định tại Điều 35, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có trụ sở tại thành phố T, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên thụ lý, giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của bị đơn: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đối với người đại diện hợp pháp của bị đơn, Tòa án

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn vắng mặt. Tòa án căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giải quyết vắng mặt các đương sự.

[3] Về ký kết thực hiện hợp đồng: Theo Hợp đồng kinh tế số VP/2023-04 ngày 02/01/20023, nguyên đơn, bị đơn có thỏa thuận mua bán hàng hóa là gỗ dán, gỗ lạng, ván ép uốn cong và các loại ván mỏng khác. Căn cứ các nội dung các Hóa đơn giá trị gia tăng, bản Công nợ phải thu năm 2023 do nguyên đơn cung cấp, có cơ sở xác định từ ngày 12/01/2023 đến ngày 23/6/2023, nguyên đơn đã bán và giao hàng cho bị đơn tổng cộng 8 lần với tổng giá trị hàng hóa là 576.758.733 đồng. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ngày 15/4/2024 bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 119.980.200 đồng. Như vậy bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 456.778.533 đồng. Bị đơn không thanh toán đầy đủ cho nguyên đơn là vi phạm quy định tại Điều 50 của Luật Thương mại. Do đó, việc nguyên đơn rút một phần khởi kiện số tiền 119.980.200 đồng và yêu cầu bị đơn thanh toán 456.778.533 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 257, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 50 của Luật Thương mại;
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH M (Việt Nam) thanh toán 119.980.200 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” với bị đơn Công ty TNHH M (Việt Nam):

Buộc Công ty TNHH M (Việt Nam) phải thanh toán cho Công ty TNHH S 456.778.533 đồng (Bốn trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí sơ thẩm:

  • - Buộc Công ty TNHH M (Việt Nam) phải chịu 22.271.141 đồng (Hai mươi hai triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn một trăm bốn mươi mốt đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
  • - Trả lại cho Công ty TNHH S tiền tạm ứng án phí 13.535.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001992 ngày 06/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Đình Hưởng

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/KDTM-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 44/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger