|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
1
Bản án số: 44/2024/DS-ST
Ngày: 09/7/2024
(V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Văn An
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước
- Bà Võ Tuyết Kha
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 304/2023/TLST- DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 115/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 và thông báo thay đổi ngày xét xử số: 38/2024/TB-TA ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1.
Địa chỉ: Tầng A và 2, Tòa nhà S - A A, phường B, quận A, Tp ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Khánh H; Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ hỗn hợp Miền Nam.
Địa chỉ: Tầng A và 2, Tòa nhà S - A A, phường B, quận A, Tp ..
Những người đại diện hợp pháp theo ủy quyền cho ông Nguyễn Khánh H:
- + Ông Nguyễn Võ Đăng D
- + Ông Trần Văn Q
- + Ông Tạ Công T
- + Ông Trần Minh P
- + Ông Nguyễn Bá H1
- + Ông K'JACLY
Cùng địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P U, phường B, quận B, Tp ..
- Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Đại diện Ngân hàng có mặt; Chị H2 vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/02/2021, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ vụ án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Trước đây vào ngày 31/7/2017, chị Nguyễn Ngọc H2 có ký hợp đồng tín dụng số: 0543/HĐTD-VIB614/17 với Ngân hàng TMCP Q1 để vay số tiền là 500.000.000 đồng. Mục đích vay là để mua xe ô tô, thời hạn vay là 96 tháng kể từ ngày vay vốn 01/8/2017, với lãi suất cho vay là 8,09%/năm, lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Ngân hàng đã giải ngân cho chị H2 theo đơn đề nghị giải ngân và khế ước nhận nợ số: 0543/KUNN-VIB614/17 ngày 31/7/2017 với số tiền 500.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của chị H2.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng chị H2 đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền là 510.208.328 đồng. Trong đó số tiền gốc là 415.658.400 đồng và tiền lãi là 94.594.928 đồng (tạm tính đến ngày 09/7/2024) nên tính đến thời điểm hiện tại chị H2 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 274.849.421 đồng. Trong đó số tiền gốc là 84.341.600 đồng, lãi trong hạn là 5.065.935 và lãi quá hạn là 185.441.886 đồng.
Để đảm bảo cho khoản nợ vay trên, chị H2 có thế chấp cho Ngân hàng tài sản là xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET CRUZE biển số đăng ký 94A-026.24. Theo hợp đồng thế chấp số: 0543/HĐTC-VIB614/17 ngày 31/7/2017. Do quá trình thự hiện hợp đồng chị Nguyễn Ngọc H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên đến nay Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay trên qua nợ quá hạn. Tính đến ngày hôm nay (09/7/2024) chị H2 còn thiếu nợ Ngân hàng tổng số tiền là 274.849.421 đồng. Trong đó số tiền gốc là 84.341.600 đồng, lãi trong hạn là 5.065.935 và lãi quá hạn là 185.441.886 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Ngọc H2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 274.849.421 đồng. Trong đó số tiền gốc là 84.341.600 đồng, lãi trong hạn là 5.065.935 và lãi quá hạn là 185.441.886 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Do chị H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng nên Ngân hàng đã bán phát mãi tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET CRUZE biển số đăng ký 94A-026.24. Theo hợp đồng thế chấp số: 0543/HĐTC-VIB614/17 ngày 31/7/2017 để thu hồi nợ cho Ngân hàng nên nay Ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp nêu trên giữa Ngân hàng với chị H2.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Ngọc H2: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho chị H2 nhưng chị H2 không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến trình bày của chị, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với chị.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án tại khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc chị Nguyễn Ngọc H2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 274.849.421 đồng (tạm tính đến ngày 09/7/2024). Trong đó số tiền gốc là 84.341.600 đồng, lãi trong hạn là 5.065.935 và lãi quá hạn là 185.441.886 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Chị Nguyễn Ngọc H2 phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với chị Nguyễn Ngọc H2, chị H2 có địa chỉ cư trú tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đối với sự vắng mặt của chị Nguyễn Ngọc H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng chị Nguyễn Ngọc H2 vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Ngọc H2 theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 về việc buộc chị Nguyễn Ngọc H2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vay theo hợp đồng tín dụng số: 0543/HĐTD-VIB614/17, tạm tính đến ngày 09/7/2024 với tổng số tiền là 274.849.421 đồng. Trong đó số tiền gốc là 84.341.600 đồng, lãi trong hạn là 5.065.935 và lãi quá hạn là 185.441.886 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán dứt nợ.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho chị Nguyễn Ngọc H2. Nhưng chị H2 không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với chị. Từ đó, cho thấy chị H2 đã thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Ngân hàng yêu cầu chị H2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền là 274.849.421 đồng. Trong đó, số tiền gốc là 84.341.600 đồng, lãi trong hạn là 5.065.935 và lãi quá hạn là 185.441.886 đồng (tạm tính đến ngày 09/7/2024) là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Do Ngân hàng không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Xét thấy mức lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp với Điều 91, Điều 95 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng năm 2017.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q1 được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí. H3 lại cho Ngân hàng số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006492 ngày 15/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Buộc chị Nguyễn Ngọc H2 phải nộp số tiền 13.742.400 đồng (Mười ba triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
[7] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 91, 95 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2017;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 đối với chị Nguyễn Ngọc H2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc chị Nguyễn Ngọc H2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền là 274.849.421 đồng. Trong đó, số tiền gốc là 84.341.600 đồng, lãi trong hạn là 5.065.935 và lãi quá hạn là 185.441.886 đồng (tạm tính đến ngày 09/7/2024) và chị H2 còn phải tiếp tục chịu khoản nợ lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 0543/HĐTD-VIB614/17 ngày 31/7/2017 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc chị Nguyễn Ngọc H2 phải nộp số tiền 13.742.400 đồng (Mười ba triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Ngân hàng TMCP Q1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. H3 lại cho Ngân hàng số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006492 ngày 15/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Văn An |
Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 44/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn
