|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HSST
Ngày: 09-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào
Bà Bùi Thị Thu Nhi
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/HSST-QĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Huỳnh Tuấn V, sinh ngày 04/7/1990 tại tỉnh Tiền Giang; tên thường gọi: Tý. Nơi đăng ký thường trú: số B Đ, Phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Số CCCD: [...].; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Quốc K (1969); Mẹ: Huỳnh Thị Thùy T (đã chết); Có vợ tên Nguyễn Thị Thanh X (đã ly hôn) và có 01 con chung (sinh năm 2015).
Tiền sự: Không.
Tiền án: 02 lần
- +Ngày 03/4/2019 tại bản án số 27/2019/HS-ST bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử 06 tháng tù về tội “ Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản so người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/7/2019;
- +Ngày 02/02/2021 tại Bản án số 06/HS-ST bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh tiền G xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, xác định bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2022.
Nhân thân:
- +Ngày 08/7/2020 tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0001712/QĐ-XPHC bị Công an P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
- +Ngày 25/8/2023 tại Quyết định số 106/QĐ-TA bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng.
Bị cáo đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 106/QĐ-TA ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Phan Minh T1, sinh năm 2004. Vắng mặt
Địa chỉ: D T, phường T, thành phố M, Tiền Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1995. Vắng mặt
- Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1997. Vắng mặt
- Đỗ Thị Hồng T2, sinh năm 1962. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp Thừa Lợi, xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
Chỗ ở: số 142/3 Đinh Bộ Lĩnh, Phường 2, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang
Địa chỉ: số A P, Phường C, thành phố M, Tiền Giang
Địa chỉ: số H N, Phường A, thành phố M, Tiền Giang
* Người làm chứng:
Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1990. Vắng mặt
Địa chỉ: số I P, Phường C, thành phố M, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoàng 18 giờ 15 phút ngày 09/4/2023 Nguyễn Huỳnh Tuấn V gặp anh Phan Minh T1 trước nhà số A đường Đ, Phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang và nhờ anh T1 chở về nhà tại số A đường L, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, được anh T1 đồng ý chở đi. Khi đến nơi, V hỏi anh T1 mượn xe mô tô hiệu Wave Alpha, biển số 71C1-646.34 và điện thoại di động hiệu Redme Note 9 để ra đầu đường hẻm liên hệ mua ma túy về sử dụng, khoảng 15 phút sẽ trả lại tài sản. Anh T4 đồng ý và giao xe mô tô cùng điện thoại do động cho V. Sau đó, V điều khiển xe mô tô ra đầu hẻm S L, Phường E, thành phố M, tỉnh tiền G rồi dùng điện thoại vừa mượn của anh T4 gọi điện cho người tên T5 (không rõ họ tên, địa chỉ) nhưng không liên lạc được. Lúc này do cần tiền tiêu xài cá nhân nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại và xe mô tô của anh T4, vì vậy V điều khiển xe mô tô nói trên đến cửa hiệu cầm đồ “Hồng Cẩm”, địa chỉ số H N, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cầm điện thoại di động cho bà Đỗ Thị Hồng T2 là chủ cửa hiệu với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, V đến tiệm game bắn cá trên đường H, Phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cầm xe mô tô trên cho anh Nguyễn Hồng Q với giá 6.000.000 đồng và lấy giấy cầm điện thoại Redme Note 9 ở cửa hiệu H cầm cho anh Quân số tiền 1.000.000 đồng. Số tiền có được V tiêu xài cá nhân hết. Sau khi đợi lâu không thấy V quay lại trả tài sản nên anh T4 đến Công an P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang tố giác V.
Bản kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận: 01 xe mô tô biển số 71C1-646.34 nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu trắng đen bạc, trị giá 14.700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redme Note 9 màu xanh lam trị giá 1.800.000 đồng. Tổng giá trị là 16.500.000 đồng
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSMT ngày 10/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Nguyễn Huỳnh Tuấn V để xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự (BLHS).
*Tại phiên tòa:
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- +Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- +Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- +Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Quân số tiền 7.000.000 đồng, cho bà T2 số tiền 1.000.000 đồng
-Bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu, bị cáo không bào chữa cho hành vi phạm tội. Bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Q và bà T2. Nói lời sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo đi chấp hành án sớm để sớm được về nhà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 09/4/2023 sau khi mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha biển số 71C1-646.34 và điện thoại di động hiệu Redme Note 9 của anh T4, bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V đã có hành vi gian dối đem tài sản đã mượn đi cầm cố cho bà Đỗ Thị Hồng T2 và anh Nguyễn Hồng Q để lấy tiền tiêu xài cá nhân, tổng tài sản bị chiếm đoạt trị giá 16.500.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V có 02 tiền án, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi mượn tài sản rồi chiếm đoạt là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì cần tiền tiêu xài, có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân mà không phải bỏ công sức để lao động nên bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[3] Chiếc xe mô tô biển số 71C1-646.34 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Phát Đ. Anh Đ cho anh T4 mượn sử dụng, sau đó anh T4 cho bị cáo Vũ m rồi bị chiếm đoạt. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô và điện thoại di động cho anh T4 nhận, anh không có yêu cầu gì thêm.
[4] Đối với anh Nguyễn Hồng Q, bà Đỗ Thị Hồng T2 có nhận cầm xe mô tô và điện thoại di động từ V, tuy nhiên cả hai không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Hồng Q yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền là 7.000.000 đồng cầm xe mô tô và giấy cầm điện thoại, bà Đỗ Thị Hồng T2 yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 1.000.000 đồng cầm điện thoại di động, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường nên cần buộc bị cáo bồi thường cho anh Q và bà T2 khi án có hiệu lực pháp luật.
Anh Phan Thanh T6 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên cần ghi nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt:
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, 589 BLDS
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người liên quan vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; Điều 50, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
-Ghi nhận bị hại anh Phan Thanh T6 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
-Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V hoàn trả cho anh Nguyễn Hồng Q số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Tuấn V hoàn trả cho bà Đỗ Thị Hồng T2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày anh Q, bà T2 có yêu cầu thi hành án, trường hợp bị cáo chậm thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bảnh |
Bản án số 44/2024/HSST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 44/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chiếm đoạt xe
