Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Bà Hà Thị Nga.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 606/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 697/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L; nơi cư trú: Số A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình P; nơi cư trú: Số A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 27/3/2024, Bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên vào tháng 12/2004.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh P có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Mặt khác, anh P sống thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm và không còn quan tâm đến tình cảm của nhau. Năm 2022, chị L đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, anh P hứa thay đổi, nên chị L đã rút đơn để vợ chồng trở về đoàn tụ. Nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi, ngày càng trầm trọng hơn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Hai bên gia đình đã hòa giải khuyên ngăn anh P nhiều lần nhưng không có kết quả. Do đó, chị L, anh P cùng xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng thống nhất ký đơn đề nghị Tòa án giải quyết công nhận thuận tình ly hôn. Quá trình nộp đơn để Tòa án thụ lý, anh P thay đổi không đồng ý ly hôn, nhưng chị L vẫn giữ nguyên quan điểm và có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận Lê Chân giải quyết cho chị L được ly hôn anh Nguyễn Đình P.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình P có 02 con chung là Nguyễn Đức V, sinh ngày 04/11/2004 và Nguyễn Thị Phương L1, sinh ngày 13/01/2012. Con Nguyễn Đức V đã thành niên nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, chị L đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, nên khi ly hôn chị L có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con Nguyễn Thị Phương L1 đến khi đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L có quan điểm vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh Nguyễn Đình P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần và đều vắng mặt tại Tòa án. Ngày 18/6/2024, Tòa án đã trực tiếp tiến hành lấy lời khai của anh P tại nơi cư trú, anh P có quan điểm trình bày như sau:

Về điều kiện kết hôn của vợ chồng đúng như chị Nguyễn Thị L trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Anh P cho rằng anh không có sai trái gì trong cuộc sống tình cảm vợ chồng, nên anh không đồng ý ly hôn, nếu chị L cương quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh P xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị L đã khai nhận tại Tòa án. Trường hợp nếu ly hôn, về con Nguyễn Đức V đã thành niên, nên anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung Nguyễn Thị Phương L1, anh đề nghị Tòa án căn cứ theo pháp luật để giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con, anh P không có quan điểm.

Về tài sản chung: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên quan điểm như chị đã trình bày và không có ý kiến thay đổi gì khác.

Tại phiên tòa, Anh Nguyễn Đình P vắng mặt lần hai, không lý do và không có văn bản thay đổi quan điểm nào khác với nội dung anh P đã trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã không chấp hành qui định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở đánh giá, phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của các đương sự trình bày tại phiên tòa về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng theo quy định của pháp luật thấy đủ cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, cho chị L được ly hôn anh Nguyễn Đình P.

Về con chung, căn cứ vào tình hình thực tế nuôi dưỡng con của chị L và nguyện vọng của con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Thị Phương L1, sinh ngày 13/01/2012 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Đối với con chung Nguyễn Đức V, sinh ngày 04/11/2004 đã thành niên, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Về cấp dưỡng nuôi con, chị L trình bày để hai bên tự thỏa thuận, không yêu càu Tòa án giải quyết và về phía anh P không có quan điểm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình P đều có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản của vợ chồng.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Đình P đang cư trú tại số A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Anh Nguyễn Đình P lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, mặc dù đã được Tòa án nhiều lần tống đạt trực tiếp, hợp lệ các văn bản tố tụng. Trên cơ sở quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Đình P, nên Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp quy định của pháp luật.

- Về hôn nhân:

[3] Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên vào ngày 13/12/2004. Vì vậy, quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình P là hôn nhân hợp pháp.

[4] Qua xác minh tại địa phương và ý kiến của các con về tình trạng hôn nhân của vợ chồng, cũng như trên cơ sở quan điểm trình bày của các bên, chị L, anh P đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách cư xử, sự quan tâm chăm sóc gia đình. Từ năm 2022 đến nay vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Hai bên gia đình và chị L nhiều lần tìm cách khuyên giải, nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được. Đến nay, anh P có quan điểm không đồng ý ly hôn và mong muốn được đoàn tụ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết anh P đều vắng mặt, không tham gia hòa giải, không đưa ra biện pháp nào để cải thiện cuộc sống gia đình cũng như hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, anh P xác định nếu chị L vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn thì anh P đề Nghị Tòa án căn cứ theo pháp luật giải quyết.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, không còn khả năng khắc phục, nếu kéo dài tình trạng gia đình như hiện tại chỉ gây khó khăn, cản trở cho cuộc sống của chị L và các con.

Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L với anh Nguyễn Đình P là có căn cứ, đúng với thực tế, phù hợp các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung:

[5] Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình P đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đức V, sinh ngày 04/11/2004 và Nguyễn Thị Phương L1, sinh ngày 13/01/2012. Con Nguyễn Đức V đã thành niên, chị L và anh P đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con Nguyễn Thị Phương L1, chị L có quan điểm được nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị L trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con Nguyễn Thị Phương L1, anh P có quan điểm đề nghị giải quyết theo pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh P không có ý kiến trình bày. Đánh giá tình hình thực tế, hiện nay các con đang sinh sống cùng chị L, do chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và con Nguyễn Thị Phương L1 có nguyện vọng được ở cùng chị L. Do đó, trên quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử xét nhận thấy cần giao con chung Nguyễn Thị Phương L1 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung:

[6] Chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Đình P không có quan điểm giải quyết về tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

- Về án phí:

[7] Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[8] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 19, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Đình P.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Phương L1, sinh ngày 13/01/2012 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị L đã nộp đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003254 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
  2. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đình P vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7(b) và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên (GCNKH ngày 13/12/2004);
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đức Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Lý Phong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger