Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN E

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07 - 6 -2024.

“V/v: Kiện ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tuyển và ông Ksor Y Nai.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Đức - Cán bộ Toà án nhân dân huyện E.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 06 năm 2024 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện E xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số :56/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27/02/2024 về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện E, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị N X - sinh năm 1998; Địa chỉ: Buôn T, xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk - vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh KB - sinh năm 1977; Địa chỉ: Buôn Tri B, xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk - vắng mặt (đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Niê H Xỉu trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị N X và anh KB tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2014 đến năm 2017 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.

Khi về chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Chị X và anh B không chia sẻ và hòa hợp được trong cuộc sống. Đến nay, chị N X cảm thấy không còn tình cảm với anh B nên chị X yêu cầu tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh KB.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị N X và anh K B có 02 con chung là: NV - sinh ngày 22/09/2014 và N A - sinh ngày 13/3/2017.

Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, chị X yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con chung cho đến khi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Chị N X không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Quá trình giải quyết vụ án, anh K B trình bày:

Anh K B và chị N X tự nguyện về sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không còn tôn trọng, hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng. Nay tình cảm yêu thương không còn dành cho nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, anh B đồng ý ly hôn với chị N X.

Về con chung: Anh B và chị X có 02 con chung như chị X rình bày. Nếu Toà án giải quyết ly hôn, anh B đồng ý cho chị X được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Các bên tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản xác minh tại đề ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện E thể hiện: Hiện nay chị N X và anh K B đã ly thân với nhau, còn mâu thuẫn cụ thể giữa hai người địa phương không rõ.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, Tòa án đã thu thập đầy đủ và đúng trình tự theo quy định pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện việc chị X khởi kiện yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình;
  • - Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X về việc ly hôn với anh K B. Về con chung: đề nghị giao các con chung cho chị N X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục: Chị N X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung với anh K B là “Kiện ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại bản tự khai, chị N X và anh K B đều trình bày nội dung đồng ý ly hôn với nhau và thống nhất việc giao con chung cho chị X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tuy nhiên, tại các buổi họp công khai chứng cứ và hòa giải anh B vắng mặt. Chị X có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải giữa các bên. Vậy nên, Tòa án tiến hành không hòa giải theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị N X, bị đơn anh K B đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị N X và anh K B chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 91, ngày 08/8/2017 là trên cơ sở tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Theo bản tự khai, chị X và anh B đều trình bày đồng ý ly hôn với nhau. Như vậy, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N X.

[2.2]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị N X và anh K B có 02 con chung là: NV - sinh ngày 22/09/2014 và N A - sinh ngày 13/3/2017.

Chị N X yêu cầu và anh K B đồng ý giao cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị N X.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập xem xét, giải quyết. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và trợ cấp phí tổn nuôi con chung.

Anh B có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐ-ST, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Niê H'Xỉu.

  • - Về hôn nhân: Cho chị N X được ly hôn với anh K B.
  • - Về con chung: Giao các con chung là N V - sinh ngày 22/09/2014 và N A - sinh ngày 13/3/2017 cho chị N X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  • Anh K B có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và trợ cấp phí tổn nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  • - Về án phí: Chị N X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí HNGĐ-ST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện E theo Biên lai số AA/2021/0011997 ngày 23/02/2024.
  • 3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được quy định theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện KSND huyện E;
  • - Thi hành án DS huyện E;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk;
  • - UBND xã D, E;
  • (số 91, ngày 08/8/2017);
  • - Lưu hồ sơ, vi tính.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Thủy

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK về kiện ly hôn

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn xb
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger