Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 06 - 8 - 2024

V/v: tranh chấp Hôn nhân và gia đình (Th – Th)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi
  • Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Văn Quảng
  • Bà Tô Thị Hương
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2024/TLST - HNGĐ ngày 01/7/2024 về tranh chấp "Hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXX - ST ngày 18/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T - sinh năm 1981(Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn:Anh Trần Xuân T1 - sinh năm 1969(Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Xuân T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 29/11/1997.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống nhưng không có hạnh phúc mà thi thoảng lại phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cưới nhau còn quá trẻ không có kinh tế, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong mọi vấn đề của cuộc sống. Dẫn đến chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã N sinh sống sau đó anh T1 có thay đổi và về xin lỗi chị nên vợ chồng lại về đoàn tụ. Tưởng cuộc sống sẽ hạnh phúc và gia đình đầm ấm nhưng sau đó anh T1 vẫn không thay đổi. Sau khi chị sinh con thứ 3 năm 2007 được 02 tháng 13 ngày thì anh T1 nói chị ở nhà anh đi làm ăn đến Tết anh về. Tuy nhiên anh đi biệt tích từ thời điểm đó cho đến tận ngày hôm nay không có tin tức gì. Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã ra thông báo mất tích đối với anh Trần Xuân T1 theo đơn yêu cầu của chị. Nay chị xác định tình cảm giữa anh chị không còn, hôn nhân không tồn tại trên thực tế và mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Xuân T1.

Về con chung: Chị và anh Trần Xuân T1 có 03 con chung là Trần Thị T2 – sinh ngày 14/5/1998; Trần Văn T3 – sinh ngày 17/3/2006 và Trần Văn B – sinh ngày 04/6/2007. Hiện tại cháu Trần Thị T2, Trần Văn T3 đã trưởng thành, có công ăn việc làm ổn định, có khả năng tự chăm sóc bản thân nên không đặt ra vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với cháu Trần Văn B, do anh Trần Xuân T1 mất tích, từ khi cháu còn nhỏ đã ở cùng chị, một tay chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến ngày nay. Ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến khi trưởng thành và không cần anh Trần Xuân T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Trần Xuân T1 đã mất tích theo Quyết định số 01/2024/QĐST – VDS ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

* Xác minh tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình: Chị Trần Thị T và anh Trần Xuân T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T ngày 29/11/1997. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng nhau tại xã B, huyện T một thời gian. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên cụ thể mâu thuẫn vì nguyên nhân gì thì địa phương không nắm bắt được. Từ năm 2007 anh T1 bỏ đi khỏi địa phương không có tung tích gì, gia đình anh T1 và chị T có tìm kiếm nhưng không được. Anh T1 đã bị Toà án tuyên bố mất tích, từ khi có quyết định mất tích đến nay, anh T1 vẫn không có tin tức gì. Về con chung: chị T, anh T1 có 03 con chung là Trần Thị T2 – sinh ngày 14/5/ 1998; Trần Văn T3 – sinh ngày 17/3/2006 và Trần Văn B – sinh ngày 04/6/2007. Nay chị T đề nghị ly hôn, quan điểm của Uỷ ban là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi ích cho các đương sự. Về tài sản của anh, chị địa phương không nắm bắt được.

Đối với việc đăng ký kết hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trần Xuân T1 vào ngày 29/11/1997. Tại thời điểm đó chị T không đủ tuổi đăng ký kết hôn theo căn cước công dân được cấp. Tuy nhiên đây là sai sót từ thời kỳ trước để lại khi có giấy giới thiệu của UBND xã N (quê quán chị T) sang UBND xã B mà không kiểm tra thông tin giấy tờ tuỳ thân của chị T nên tiến hành đăng ký kết hôn và ghi chị Trần Thị T - sinh năm 1980 trong Giấy chứng nhận kết hôn. Đối với việc này địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX, áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T, xử cho chị được ly hôn anh Trần Xuân T1.
  • + Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị T và anh Trần Xuân T1 có 03 con chung là Trần Thị T2 – sinh ngày 14/5/1998; Trần Văn T3 – sinh ngày 17/3/2006 và Trần Văn B – sinh ngày 04/6/2007. Các cháu Trần Thị T2, Trần Văn T3 đã trưởng thành, tự chăm sóc được bản thân, ly hôn không đặt ra vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Đối với cháu Trần Văn B giao cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, ghi nhận sự tự nguyện của chị T không buộc anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
  • + Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này mà sẽ được đặt ra giải quyết khi một trong các bên có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Trần Thị T và anh Trần Xuân T1 là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T1 trước khi mất tích có đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình do đó yêu cầu khởi kiện này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T có đề nghị xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt tại phiên toà lần 2 vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Trần Xuân T1 tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 29/11/1997. Xét thấy tại thời điểm kết hôn và trong Giấy chứng nhận kết hôn chị Thuỷ sinh năm 1980 là đủ tuổi kết hôn. Sau này dựa trên Căn cước công dân của chị T UBND xã B mới phát hiện ra sai sót khi đăng ký kết hôn cho chị T, anh T1 thì chị T chưa đủ tuổi kết hôn. Tuy nhiên hiện tại anh T1 đã mất tích theo quyết định của Toà án vì vậy không lấy được ý kiến của anh. Mặt khác sau khi kết hôn thì chị T, anh T1 chung sống và có 03 con chung với nhau. Đến hiện tại chị T vẫn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1. Do đó xác định hôn nhân giữa chị Trần Thị T, anh Trần Xuân T1 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống nhưng không có hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong mọi vấn đề. Anh T1 bỏ nhà đi từ tháng 8 năm 2007 cho đến nay không có tin tức gì, đã được Toà án tuyên bố mất tích. Như vậy hôn nhân giữa anh, chị không có hạnh phúc, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T, xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Trần Xuân T1 là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Trần Xuân T1 có 03 con chung là Trần Thị T2 – sinh ngày 14/5/1998; Trần Văn T3 – sinh ngày 17/3/ 2006 và Trần Văn B – sinh ngày 04/6/2007. Ly hôn, do các cháu T2, T3 đã trên 18 tuổi, có khả năng tự chăm sóc được bản thân, không mắc các bệnh hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi do đó không đặt ra vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng khi ly hôn. Đối với cháu B, kể từ khi anh T1 bỏ đi mất tích cho đến nay cháu do một tay chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặt khác từ khi có quyết định mất tích đến hiện tại anh T1 vẫn không có tin tức gì. Do đó ly hôn HĐXX giao cháu Trần Văn B cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không đề nghị anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con chung sẽ được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật nếu anh T1 không mất tích là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3] Về tài sản chung: Chị T trình bày anh, chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không cho ai vay nợ chung. Tuy nhiên do anh Trần Xuân T1 hiện tại đã mất tích nên không lấy được ý kiến của anh về quan hệ tài sản. Do đó phần tài sản không đặt ra giải quyết trong vụ án này mà được đặt ra giải quyết trong vụ án khác khi một trong các bên đương sự có yêu cầu.

[3] Về án phí: chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Trần Xuân T1.
  2. 2. Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị T và anh Trần Xuân T1 có 03 con chung là Trần Thị T2 – sinh ngày 14/5/1998; Trần Văn T3 – sinh ngày 17/3/ 2006 và Trần Văn B – sinh ngày 04/6/2007. Ly hôn, các cháu Trần Thị T2, Trần Văn T3 đã trưởng thành không đặt ra vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Văn B cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị T không buộc anh Trần Xuân T1 phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

    Anh Trần Xuân T1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.

  3. 3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
  4. 4. Về án phí: chị Trần Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002697 nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 01/7/2024 sang thi hành án phí.
  5. 5. Về quyền kháng cáo: chị Trần Thị T, anh Trần Xuân T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

*Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS huyện Tiền Hải;
  • - THADS huyện Tiền Hải;
  • - UBND xã Bắc Hải, h. Tiền Hải;
  • - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ - ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Th-Th ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger