Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ G

TỈNH KIÊN G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/5/2024.

V/v: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan - Thẩm phán
  • - Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Hoàng
  • 2. Bà Huỳnh Yến Trinh
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố G xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngân G, sinh năm 1989 (Có đơn xin vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số 248/3B Trần Khánh Dư, P. AH, G, Kiên G .
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Hẽm 288 Trần Khánh Dư. P. AH, G, tỉnh Kiên G

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn bà Trương Thị Ngân G trình bày: Bà G và ông K chung sống với nhau từ năm 2012 có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường AH, vào ngày 04/12/2012. Ban đầu cuộc sống vợ chồng tôi rất hạnh phúc dần dần tình cảm vợ chồng ngày càng mờ nhạt, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bất đồng trong cuộc sống, cụ thể mỗi lần uống rượu vô thì kiếm chuyện cự cãi với bà G và xúc phạm đến cha mẹ ruột của bà, không có trách nhiệm với vợ và con, đi làm nhưng không hề đóng góp với bà G để nuôi con ăn học, vợ chồng không còn hạnh phúc và không còn hòa hợp như trước đây, bà G đã cho ông K cơ hội nhiều lần để sửa chữa nhưng ông K vẫn chứng nào tật nấy. Chúng tôi sống ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay, không còn qua lại với nhau nữa. Nay bà G yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Duy K vì tình cảm không còn như xưa.

- Về con chung: Chúng tôi có 01 người con chung tên Nguyễn Khánh H, sinh ngày 07/5/2013 hiện nay đang sống với bà G . Nay bà G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà G xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà G xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trương Thị Ngân G có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn ông Nguyễn Duy K: Không có ý kiến bằng văn bản theo thông báo thụ lý hợp lệ của Tòa án và cũng không có mặt theo hai lần thông báo hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Duy K vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung”. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố G . Nguyên đơn bà Trương Thị Ngân G có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Duy K Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay tiếp tục vắng mặt không lý do. Căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Trương Thị Ngân G và ông Nguyễn Duy K nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho họ theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Bà G và ông K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn và được UBND phường An Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/12/2012, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà G, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà G và ông K không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng mái ấm gia đình bền vững và hạnh phúc. Cụ thể, bà G trình bày nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhau, cụ thể mỗi lần uống rượu vô thì kiếm chuyện cự cãi với bà G và xúc phạm đến cha mẹ ruột của bà, không có trách nhiệm với vợ và con, đi làm nhưng không hề đóng góp với bà G để nuôi con ăn học, vợ chồng không còn hạnh phúc và không còn hòa hợp như trước đây, bà G đã cho ông K cơ hội nhiều lần để sửa chữa nhưng ông K vẫn chứng nào tật nấy. Đến năm 2021 hai bên đã sống ly thân đến nay không còn quan tâm, liên lạc với nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà G và ông K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà G được ly hôn với ông K.

Về quan hệ con chung: Bà G xác nhận trong quá trình chung sống với ông K bà và ông K có 01 người con chung tên: Nguyễn Khánh H, sinh năm 2013. Bà G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung đến tuổi trưởng thành. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Hà vào ngày 22/3/2024 có nguyện vọng được sống chung với mẹ là Trương Thị Ngân G. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà G là hoàn toàn phù hợp. Bà G không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về quan hệ tài sản chung: Bà G xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ nợ chung: Bà G xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Duy K, căn cứ khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông K không có sự phản đối nào đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Do đó, nếu ông K có tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung của vợ chồng thì ông K có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị Ngân G phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 2 Điều 91, Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trương Thị Ngân G đối với ông Nguyễn Duy K. Tuyên bố bà Trương Thị Ngân G được ly hôn với ông Nguyễn Duy K.
  2. Về quan hệ con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Khánh H, sinh ngày 07/5/2013 cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Duy K được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
  3. Về quan hệ tài sản chung: Bà G xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về quan hệ nợ chung: Bà G xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Trương Thị Ngân G phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006181 ngày 04/3/2024 nên bà G không phải nộp thêm.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.G
  • - TAND Tỉnh Kiên G
  • - VKSND Tỉnh Kiên G
  • - CQTHA TP.G
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G, TỈNH KIÊN G về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G, TỈNH KIÊN G
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn giữa nguyên đơn chị Trương Thị Ngân G với bị đơn anh Nguyễn Duy K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger