|
TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST Ngày 05.9.2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đời
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Trà - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14.8.2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2024/QÐST-HPT ngày 26.8.2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: bà Trần Thị T. Sinh năm 1989. Có mặt
*Bị đơn: ông Trương Văn T1. Sinh năm 1990; vắng mặt
Cùng trú tại: tổ F, phường T, quận S, TP Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Trương Văn T1 kết hôn vào năm 2017 hôn nhân tự nguyện, có thời gian dài tìm hiểu nhau. Có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Quá trình chung sống hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, sống trong gia đình mặc ai nấy sống không ai có trách nhiệm với ai. Đáng nói là chồng tôi đã nhiều lần xúc phạm bằng lời nói và sử dụng bạo lực với tôi. Đã từng nhiều lần ngồi lại với nhau trao đổi tìm cách giải quyết và cho cơ hội sửa sai nhưng không thành. Do mâu thuẫn như vậy nên tôi đã cùng con dọn ra ngoài sống riêng từ tháng 3.2024 đến nay. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân đã dẫn đến trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, hôn nhân không thể kéo dài nên tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Trương Văn T1.
- Về quan hệ con chung: Tôi xác định có 01 con chung là: Trương Ngọc Khánh V, sinh ngày 07.7.2021. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được quyền nuôi con và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng
- Về tài sản chung và nợ chung : Không có
* Bị đơn trong quá trình tham gia tố tụng ông Trương Văn T1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và cô Trần Thị T kết hôn vào năm 2017 hôn nhân tự nguyện, có thời gian dài tìm hiểu nhau. Có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Nay cô T xin ly hôn tôi có ý kiến như sau: Tôi hoàn toàn không đồng ý vì lý do bản thân tôi cũng có nhiều sai sót, cần phải sửa sai nên mong muốn vợ hiểu, tôi xin lỗi vợ những gì sai tôi sẽ sửa mong gia đình đoàn tụ. Đỉnh điểm vào tháng 3.2024 vợ chồng mâu thuẫn cô T đã bồng con ra ngoài ở riêng, tôi có đến khuyên bảo vợ quay về nhưng cô T vẫn không đồng ý. Mong muốn của tôi là mong vợ tha thứ để về chung sống nuôi dạy con chung. Nếu cô T vẫn cương quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án xem xét giải quyết
- Về quan hệ con chung: Tôi xác định có 01 con chung là Trương Ngọc Khánh V, sinh ngày 07.7.2021. Nếu ly hôn, tha thiết xin nuôi con chung vì tôi có điều kiện hơn thu nhập của tôi 1 tháng 14.000.000 đồng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định không có
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà:
- Về thủ tục tố tụng: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó việc thụ lý vụ án, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đều thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về nội dung vụ án:
+Về hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân của bà Trần Thị T và ông Trương Văn T1 cuộc sống hôn nhân thực tế không còn tồn tại, vợ chồng không còn tin tưởng nhau nên căn cứ vào Điều 51,56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.
+Về con chung: bà T và ông T1 xác nhận có 01 con chung là Trương Ngọc Khánh V, sinh ngày 07.7.2021. Hiện con chung còn nhỏ cần mẹ chăm sóc nên cần giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81,82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng nên cần buộc ông T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T1 xác định không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn bà Trần Thị T và ông Trương Văn T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.
[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T thì thấy:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị T và ông Trương Văn T1 kết hôn vào năm 2017 hôn nhân tự nguyện, có thời gian dài tìm hiểu nhau. Có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Theo bà T trình bày: Nguyên nhân chính dẫn đến việc ly hôn là vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, sống trong gia đình mặc ai nấy sống không ai có trách nhiệm với ai. Đáng nói là ông T1 đã nhiều lần xúc phạm bằng lời nói và sử dụng bạo lực với bà T. Hai bên đã từng nhiều lần ngồi lại với nhau trao đổi tìm cách giải quyết và cho cơ hội sửa sai nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông T1.
Ông T1 cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn có đôi lúc không kiềm chế được bản thân nên ông đã đánh bà T tuy nhiên đây chỉ là hành động nhất thời chứ bản thân ông T1 vẫn còn yêu thương bà T và đề nghị Toà án cho vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung. Nếu bà T vẫn cương quyết đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Theo đơn xác nhận tại UBND phường T, quận S, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông T1 mâu thuẫn như thế nào địa phương không rõ, chỉ biết hiện nay bà T cùng con gái đã không còn sống chung với ông T1 nữa. Xét thấy, trong quá trình giải quyết Tòa án đã nhiều lần hòa giải động viên các bên đương sự đoàn tụ nhưng bà T vẫn cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1, ông T1 thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn đôi lúc xảy ra xung đột và xô xát nhưng vẫn mong muốn gia đình đoàn tụ.
Xét thấy, hiện nay bà T và ông T1 đã sống ly thân, mỗi người một nơi, Tòa án đã triệu tập ông T1 nhiều lần để hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông T1 không tha thiết việc hòa giải, hàn gắn gia đình. HĐXX xét thấy, hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.
[2.2]. Về quan hệ con chung: bà T và ông T1 xác nhận có 01 con chung Trương Ngọc Khánh V, sinh ngày 07.7.2021. Bà T và ông T1 đều có nguyện vọng nuôi con chung.
HĐXX thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con hiện nay con chung đang ở với bà T mặt khác con chung còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ nên cần giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật HNGĐ năm 2014.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay bà T yêu cầu ông T1 cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Việc nuôi con là trách nhiệm của cả hai vợ chồng do vậy cần buộc ông T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 3.0000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật HNGĐ năm 2014.
[2.3].Về tài sản chung và nợ chung: bà Trần Thị T và ông Trương Văn T1 khai nhận không có nên không xét.
Nếu sau này bà T và ông T1 có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng bà Trần Thị T phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54,56,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị T đối với ông Trương Văn T1
- Về con chung: Tuyên giao con chung là Trương Ngọc Khánh V, sinh ngày 07.7.2021 cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên xem xét giải quyết.
- Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà T phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002761 ngày 23.7.2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng. Như vậy, T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tuyên xử: bà Trần Thị T, sinh năm 1989 được ly hôn với ông Trương Văn T1, sinh năm 1990.
Giấy chứng nhận kết hôn số 18 của UBND xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 04.3.2021 không còn giá trị pháp lý.
Buộc ông Trương Văn T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời gian thực hiện cấp dưỡng nuôi con kể từ ngày tuyên án cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực, Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi, theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng tiền nuôi con.
Án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con ông Trương Văn T1 phải nộp 300.000 đồng.
Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thanh Thủy |
5
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Trần Thị Th xin ly hôn với ông Trương Văn T
