Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04 - 7 - 2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Xanh;

Ông Đoàn Xuân Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Đỗ Văn H; sinh năm 1987; nơi cư trú: khu M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: chị Phạm Thị T; sinh năm 1991; nơi cư trú: 202 Tòa nhà B, C, H-ri, Guseong-myeon, G-si, G1-do, Hàn Quốc; vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Đỗ Văn H trình bày:

Anh và chị Phạm Thị T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 22/4/2009 tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống ở khu M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Năm 2018, chị Phạm Thị T đi Hàn Quốc lao động. Trong suốt quá trình chị T làm việc và sinh sống tại Hàn Quốc, vợ chồng vẫn giữ liên lạc nhưng sau đó vợ chồng ít liên lạc dần. Từ đầu năm 2023 thì vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa do cách biệt về khoảng cách địa lý, không chung quan điểm sống, không có định hướng chung cho cuộc sống hôn nhân, không có dự định chung để xây dựng hạnh phúc gia đình trong tương lai, khác biệt về lối sống, cách nuôi dạy con cho đến chi tiêu sinh hoạt cho con, quan hệ nội ngoại có nhiều bất đồng. Mặc dù vợ chồng đã

2

cố gắng tìm cách để hàn gắn và được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thể hàn gắn được. Đến nay anh H nhận thấy hôn nhân thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị T.

Về con chung: vợ chồng có hai con chung là Đỗ Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/9/2009 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 05/11/2013. Hiện nay, hai con chung đang ở với anh H nên anh H đề nghị Tòa án giao các con chung cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung: hai vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: hai vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai của chị Phạm Thị T (đã hợp pháp hóa lãnh sự tại Đ tại Hàn Quốc) thể hiện: nội dung phù hợp với quan điểm của anh Đỗ Văn H trình bày nêu trên. Chị T đồng ý ly hôn với anh Đỗ Văn H.

Về con chung: vợ chồng có hai con chung là Đỗ Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/9/2009 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 05/11/2013. Hiện nay, hai con chung đang ở với anh H nên chị đồng ý để anh H tiếp tục được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung: hai vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: hai vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Biên bản lấy lời khai thể hiện nguyện vọng của các cháu Đỗ Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/9/2009 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 05/11/2013 đều thể hiện: có nguyện vọng được ở cùng với bố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung: đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, cho anh H được ly hôn với chị T; về con chung: giao hai con chung Đỗ Phạm Quỳnh A (sinh ngày 10/9/2009) và Đỗ Mạnh H1 (sinh ngày 05/11/2013) cho anh H nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng; về tài sản chung đề nghị Tòa án không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

3

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: anh Đỗ Văn H và chị Phạm Thị T đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Trích lục kết hôn của Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh thì anh Đỗ Văn H và chị Phạm Thị T đăng kí vào sổ kết hôn số 38, ngày 22/4/2009. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống ở khu M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Năm 2018, chị Phạm Thị T đi Hàn Quốc lao động. Trong suốt quá trình chị T làm việc và sinh sống tại Hàn Quốc, vợ chồng vẫn giữ liên lạc nhưng sau đó vợ chồng ít liên lạc dần. Từ đầu năm 2023 thì vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa do cách biệt về khoảng cách địa lý, không chung quan điểm sống, không có định hướng chung cho cuộc sống hôn nhân, không có dự định chung để xây dựng hạnh phúc gia đình trong tương lai, khác biệt về lối sống, cách nuôi dạy con cho đến chi tiêu sinh hoạt cho con, quan hệ nội ngoại có nhiều bất đồng. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng tìm cách để hàn gắn và được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thể hàn gắn được. Anh H xin ly hôn, chị T đồng ý ly hôn. Xét thấy việc thuận tình ly hôn của anh H và chị T là hoàn toàn tự nguyện, hai anh chị đều xác định mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh H và giải quyết cho anh H được ly hôn với chị T là phù với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Đỗ Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/9/2009 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 05/11/2013. Hiện nay, hai con chung đang ở với anh H nên anh H và chị T đều đề nghị Tòa án giao cháu các con chung cho anh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Xét thấy yêu cầu, quan điểm, điều kiện của anh H và chị T về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung khi ly hôn như nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, không làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của con chung, phù hợp với nguyện vọng của con chung là ở với bố, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: anh Đỗ Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đỗ Văn H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: anh Đỗ Văn H được ly hôn chị Phạm Thị T.
  2. Về con chung: giao cho anh Đỗ Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Đỗ Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/9/2009 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 05/11/2013 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu chị Phạm Thị T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Đỗ Văn H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy anh Đỗ Văn H không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì chị Phạm Thị T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Đỗ Văn H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng

5

(ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0005835 ngày 10/6/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, anh Đỗ Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND p. Hưng Đạo, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn H - Phạm Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger