Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐĂK NÔNG

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày 04 – 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh, Ông Nguyễn Duy Chấn
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà:
Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1979 tại tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn K và bà Hoàng Thị N (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Bế Thị G, sinh năm 1977 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2000 con nhỏ nhất sinh năm 2005); Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ - Có mặt.

Bị hại: ông Phan Trung D, sinh năm 1958 – Có mặt.
Trú tại: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:

  1. Ông Nông Hồng N1, sinh năm 1960 – Vắng mặt.
  2. Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1960 – Vắng mặt.

Đều trú tại: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/10/2023, Hoàng Văn T cùng với ông Phan Trung D, Bế Anh T2 (sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông) đến nhà ông Nông Hồng N1 tại thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để uống rượu. Quá trình uống rượu, ông Phan Trung D có lời lẽ thách thức và dùng đầu húc vào vùng mặt của Hoàng Văn T (chảy máu mũi nhưng không gây thương tích) thì Hoàng Văn T nắm cổ áo ông Phan Trung D kéo ra ngoài sân rồi dùng chân đạp 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng mạn sườn bên phải của ông Phan Trung D làm ông D ngã xuống đất. Hoàng Văn T tiếp tục dùng chân đạp 03 cái theo hướng từ trên xuống dưới vào vùng mạn sườn bên phải của ông Phan Trung D rồi dừng lại. Sau đó, ông Phan Trung D được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện.

Ngày 26/3/2024, ông Phan Trung D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 605/KLTTCT-PY, ngày 17/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận ông Phan Trung D bị:

- Kết quả khám giám định:

  • Sẹo dẫn lưu thành ngực phải, khoang liên sườn IV đường nách giữa, kích thước 02cm x 01cm, chưa cắt chỉ.
  • Sẹo dẫn lưu thành ngực phải, khoang liên sườn V, đường nách giữa, kích thước 01 cm x 0,3cm.
  • Gãy các xương sườn số 5, 6, 7, 8 bên phải.
  • Tổn thương màng phổi đã dẫn lưu.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Trung D tại thời điểm giám định là 14%.

- Vật tác động: Vật tày, cứng.

- Cơ chế hình thành thương tích: Chấn thương ngực: gãy các xương sườn 5, 6, 7, 8 bên phải; Tổn thương màng phổi phải do vật tày, cứng tác động trực tiếp gây nên có chiều hướng từ phải qua trái.

Bản cáo trạng số 44/CT-VKS (ĐM) ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Đ truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện VKSND huyện Đắk Mil giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của BLHS. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của BLHS, xử phạt các bị cáo Hoàng Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

* Vật chứng của vụ án: Không.

* Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường số tiền 50.000.000 đồng. Đề nghị HĐXX chấp nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bổi thường thiệt hại.

Bị cáo không bào chữa gì mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/10/2023, tại thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, trong khi ngồi uống rượu tại nhà ông Nông Hồng N1, bị hại Phan Trung D có hành vi xúc phạm và dùng đầu húc vào vùng mặt của Hoàng V nên Hoàng Văn T đã dùng chân đạp nhiều cái vào vùng mạn sườn bên phải của ông Phan Trung D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Hoàng Văn t về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, xem nhẹ sức khoẻ của người khác nên bị cáo đã có hành vi dùng tay chân đấm đá vào người của ông D gây thương tích 14%. Do đó, cần áp dụng đối với bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, bị cáo đến Cơ quan điều tra để đầu thú; bị hại cũng có lỗi nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên toà, bị cáo đã đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Xét thấy, việc thoả thuận giữa bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[7] Về vật chứng vụ án: Không có nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

[8] Đối với đối tượng tên Bế Anh T2, không có mặt tại địa phương, bị hại không xác định được T2 có đánh. Tại phiên toà, bị cáo khai nhận Bế A Trực không tham gia đánh ông D. Cơ quan điều tra công an huyện Đ tách hành vi tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    - Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/3/2024.

  2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của BLHS; Điều 590 của BLDS, chấp nhận việc thoả thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí DSST.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đăk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đăk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Mil;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông;
  • - Bộ phận HSNVCS-CA huyện Đắk Mil;
  • - Cơ quan THAHS-CA huyện Đắk Mil;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger