|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03 tháng 7 năm 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn; nuôi con chung, chia tài sản chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Thanh Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 391/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HN ngày 20/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 17/TB-MLPT ngày 21/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ngọc M, sinh 2004; nơi cư trú: số nhà F, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đặng Thị Ngọc M: Luật sư Nguyễn Phước H – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).
Bị đơn: Ông Bùi Quang H1, sinh 1999; nơi cư trú: số nhà I, đường T, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Quang H1: Luật sư Trần Chí C - Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1956; nơi cư trú: số nhà I, đường T, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bà Ngô Thị Tuyết E, sinh năm 1966, nơi cư trú: số nhà F, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Gian (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đặng Thị Ngọc M trình bày:
Bà M và ông Bùi Quang H1 tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2022, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, có 01 đứa con chung tên Bùi Đặng Ngọc A (sinh ngày 23/02/2023). Khi con được khoảng hơn 6 tháng, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân ông H1 có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sống đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà M yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Quang H1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 đứa con chung tên Bùi Đặng Ngọc A, sinh ngày 23/02/2023. Hiện con chung đang sống cùng ông H1; bà M yêu cầu được nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng:
+ Về tài sản chung: Tài sản chung trong ngày cưới gồm: 01 sợi dây chuyền 06 chỉ vàng 18 kara trị giá 18.000.000 đồng; 01 bộ vòng 06 chỉ vàng 18 kara trị giá 18.000.000 đồng; 01 đôi bông vàng trắng 06 phân trị giá 3.900.000 đồng. Số vàng này hiện do ông H1 giữ, bà M yêu cầu phân chia tài sản theo quy định pháp luật, bà yêu cầu nhận giá trị bằng 1/2 giá trị tài sản.
+ Về tài sản riêng: Trước khi kết hôn mẹ ruột của bà cho riêng bà 0 chỉ 24 kara và 01 chỉ vàng 18 kara. Số vàng này ông H1 đang giữ, bà yêu cầu ông H1 trả lại cho bà số vàng này. Riêng 01 lắc tay và 01 dây chuyền 24 kara trọng lượng 04 chỉ vàng 24kara là của bà Tuyết E cho mượn làm lễ cưới cho nở mặt hai họ, bà đã trả lại cho bà Tuyết E số nữ trang này.
Bị đơn ông Bùi Quang H1 trình bày: Thống nhất với bà M về thời gian, điều kiện tiến đến hôn nhân. Vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung từ giữa năm 2023 đến nay, ông đồng ý ly hôn với bà M.
Về con chung: có 01 con chung tên Bùi Đặng Ngọc A, sinh ngày 23/02/2023, hiện ông H1 đang nuôi dạy, yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu A đến thành niên, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Thống nhất vợ chồng có tài sản chung gồm: 01 dây chuyền 06 chỉ (18kara); 01 bộ vòng 06 chỉ (18 kara), bộ vòng này H1 đã bán mua 01 bộ loa trị giá 12 triệu; 01 đôi bông vàng trắng. Tất cả H1 đang giữ, đồng ý phân chia theo quy định pháp luật.
Đối với 02 chỉ vàng 24k và 01 chỉ vàng 18k (loại vàng nhẫn), H1 không đồng ý theo lời trình bày của bà M. H1 không giữ số vàng này.
Riêng 01 lắc tay và 01 dây chuyền 24 kara bà Tuyết E cho trong ngày cưới trọng lượng 01 lượng 24kara, không phải 4 chỉ vàng 24kara. Số vàng này bà M giữ. Ông H1 yêu cầu phân chia theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- - Ý kiến của bà Trần Thị L: Bà L không giữ tài sản gì của vợ chồng M - H1 và không liên quan trong vụ án này.
- - Ý kiến bà Ngô Thị Tuyết E: Xác định có đưa cho M 02 chỉ vàng 24k và 01 chỉ vàng 18k (loại vàng nhẫn). Tuy nhiên số vàng này bà cho M. H1 có trách nhiệm trả cho M. Bà không yêu cầu độc lập gì trong vụ án này. Riêng 01 lắc tay và 01 dây chuyền 24 kara bà cho mượn để làm nở mặt nở mày hai họ, không phải là tài sản chung cho trong ngày cưới, trọng lượng 2 loại là 04 chỉ 24kara, M đã trả lại cho bà số vàng này và bà đã trả lại cho người ta. Bà không đồng ý là tài sản chung của M - H1, không đồng ý yêu cầu của H1 phân chia tài sản này.
Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải giữa các đương sự, nhưng không thành.
Tại phiên tòa, bà M yêu cầu ly hôn, ông Hòa đồng ý; bà M và ông H1 đều yêu cầu nuôi dạy con chung, không yêu cầu cấp dưỡng; về tài sản chung, tài sản riêng, bà M với ông H1 tự thỏa thuận; rút lại đối với yêu cầu chia tài sản chung.
- Phát biểu của luật sư Nguyễn Phước H - bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Đặng Thị Ngọc M: Bà M và ông H1 đã thuận tình ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn giữa họ. Về phần tài sản chung, tài sản riêng, các đương sự đã thỏa thuận xong, không yêu cầu tòa án giải quyết. Riêng về phần con chung, đến thời điểm này, cháu A dưới 36 tháng tuổi, bà M có đủ điều kiện về vật chất, tinh thần để nuôi con chung, nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà M nuôi dạy.
- Phát biểu của luật sư Trần Chí C - bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Bùi Quang H1: Thống nhất việc bà M và ông Hòa thuận tly hôn, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn giữa họ. Về phần tài sản chung, tài sản riêng, các đương sự đã thỏa thuận xong, không yêu cầu tòa án giải quyết. Riêng về phần con chung, mặc dù đến thời điểm này, cháu A dưới 36 tháng tuổi, nhưng bà M bỏ cháu A cho H1 và gia đình H1 nuôi khi cháu được khoảng 6 – 7 tháng. Hiện tại cháu A có cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh thần, nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu A cho ông H1 tiếp tục nuôi dạy.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc phát biểu quan điểm:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xác định thẩm quyền thụ lý quan hệ pháp luật
tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến khi trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân của bà M với ông H1 là do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân giữa bà M với ông H1 phát sinh nhiều mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau từ ngày 16/7 âm lịch năm 2023 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải, nhưng bà M, ông H1 không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng và bà M cương quyết yêu cầu ly hôn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.
Về con chung: Bà M và ông H1 xác định vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Đặng Ngọc A sinh ngày 23/02/2023. Xét yêu cầu nuôi con chung của bà M, ông H1 thể hiện: Con chung Ngọc A được ông H1 nuôi dạy từ khi bà M trở về nhà cha mẹ sinh sống (ngày 16/7 âm lịch năm 2023) cho đến nay; ông H1 có nghề nghiệp, thu nhập đảm bảo điều kiện để nuôi con. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung, tạo điều kiện phát triển về mọi mặt cho con chung cần tiếp tục giao con chung Ngọc A cho ông H1 nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của ông H1 về việc không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà M, ông H1 tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; bà M rút lại đối với yêu cầu chia tài sản chung. Xét thấy, việc bà M rút lại yêu cầu chia tài sản chung là sự tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên cần đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện.
Về nợ chung: Bà M và ông H1 xác định không nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không đề cặp.
Từ phân tích trên, căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung của bà M; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà M: Bà Đặng Thị Ngọc M được ly hôn với ông Bùi Quang H1; không chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà M, ông H1 được tiếp tục nuôi con chung tên Bùi Đặng Ngọc A sinh ngày 23/02/2023; bà M không cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà M và ông Hòa kết h trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Quá trình chung sống, phát sinh mâu thuẫn, bà M bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 8 năm 2023 đến nay. Tình cảm không còn, bà M xin ly hôn ông H1, ông H1 cũng đồng ý ly hôn với bà M. Tòa án đã hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa bà M và ông H1, bà M phát sinh mâu thuẫn, không còn sống chung với nhau, không hàn gắn được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.
[3] Về con chung:
Bà M, ông H1 có 01 con chung Bùi Đặng Ngọc A, sinh ngày 23/02/2023. Bà M và ông H1 đều yêu cầu được nuôi con chung đến thành niên.
Xét cháu Bùi Đặng Ngọc A (sinh ngày 23/02/2023) tính đến ngày 03/7/2024 dưới 36 tháng tuổi, theo quy định con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ nuôi. Tuy nhiên cháu A được ông H1 và gia đình cùng chăm sóc, nuôi dạy khi cháu được khoảng 6 – 7 tháng tuổi đến nay, cuộc sống ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung (cháu A) cho ông H1 được tiếp tục nuôi dạy, bà M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông H1 cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[4] Về tài sản chung, tài sản riêng: Tại phiên tòa bà M, ông H1 tự thỏa thuận về tài sản chung, tài sản riêng. Bà M rút lại yêu cầu tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng. Xét thấy, việc bà M rút lại yêu cầu tranh chấp chia tài sản chung, tài sản riêng là sự tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 244
BLTTDS đình chỉ xét xử của bà M đối với yêu cầu chia tài sản chung, tài sản riêng với ông H1.
[5] Về nợ chung: Bà M và ông H1 không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà M được hoàn trả tạm ứng án phí đối với yêu cầu chia tài sản chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc M được ly hôn với ông Bùi Quang H1.
2. Về con chung: Ông Bùi Quang H1 được tiếp tục nuôi dạy Bùi Đặng Ngọc A (sinh ngày 23 tháng 02 năm 2023) cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Bà M không cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Bùi Quang H1 cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Đặng Thị Ngọc M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc M yêu cầu chia tài sản chung với Bùi Quang H1.
4. Về án phí:
- - Bà Đặng Thị Ngọc M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003044 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà M đã nộp đủ án phí. Ông Bùi Quang H1 không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- - Hoàn trả cho bà Đặng Thị Ngọc M số tiền 862.000 đồng theo biên lai thu số 0003045 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
5. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà M, ông H1, bà L, bà Tuyết E có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lư Thị Châu Ngọc |
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn; nuôi con chung, chia tài sản chung
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn; nuôi con chung, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
