|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 03 – 7 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Thành
Ông Trần Văn Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
LÊ THỊ MỸ NGA - sinh năm 2005; tên gọi khác: Không; nơi sinh: Tại C, tỉnh Hậu Giang. Hộ khẩu thường trú: Ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lê Văn Đ, sinh năm 1977 và mẹ bà Lê Thị N, sinh năm 1983; Bị cáo: chưa có chồng con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 09/12/2008
- Hồ Khánh A, sinh ngày 19/4/2008
Người đại diện hợp pháp của bị hại T: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Người đại diện hợp pháp của bị hại A: Bà Lê Thị L.
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại A: Bà Lâm Thị M – Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hậu Giang.
Đại diện cơ quan, tổ chức nơi các bị hại sinh sống, lao động và sinh hoạt:
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã N, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã N. Vắng mặt
Người làm chứng:
Nguyễn Như N1, sinh ngày 01/7/2006, người đại diện hợp pháp của N1 bà Phạm Thị Â. Vắng mặt
Huỳnh Kiều T2, sinh ngày 16/11/2006, có mặt, người đại diện hợp pháp của T2: Ông Huỳnh Văn D – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/10/2023 bị cáo Lê Thị Mỹ N2 hẹn Nguyễn Ngọc T và Hồ Khánh A, đến quán C1 thuộc ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang để giải quyết mâu thuẫn giữa bị cáo N2 với T và A trước đó trên mạng xã hội. Trước khi đi đến quán C1, bị cáo N2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95H1-736.11 một mình đến quán cà phê “HD” tọa lạc ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang để uống nước với Nguyễn Như N1 và Huỳnh Kiều T2, N2 nói cho N1, T2 biết việc đã hẹn với Ngọc T và Khánh A tại quán C1 để nói chuyện. Khi đi bị cáo N2 rủ N1 và T2 cùng đi, N1 và T2 do hiếu kỳ đồng ý nên lên xe mô tô biển số 95H1-736.11 để bị cáo N2 chở đi. Khi đến nơi, bị cáo N2 kêu T và A ngồi chung bàn uống nước và nói chuyện, được khoảng 05 phút thì bị cáo N2 đứng dậy bắt T quỳ gối xuống nền gạch trước mặt bị cáo N2 rồi dùng tay phải tát vào mặt T 01 (một) cái, sau khi tát Tuyền xong, bị cáo N2 tiếp tục chỉ tay về hướng K đang đứng, kêu Khánh An quỳ gối xuống nền gạch trước mặt bị cáo N2 rồi bị cáo N2 trực tiếp dùng tay phải tát vào mặt của K 04 (bốn) cái thì được các em học sinh ở đó đến căn ngăn nên bị cáo N2 không tát vào mặt Khánh A nữa mà quay qua chỗ T đang đứng dùng tay đánh T 02 (hai) cái và dùng chân đá vào người T nhưng không trúng thì được các em học sinh ở trước quán đến ngăn cản không cho bị cáo N2 đánh T và Khánh A nữa. Trong lúc bị cáo N2 bắt T và An quỳ gối để đánh thì Lê Anh T3, sinh ngày 25/01/2007, nơi đăng ký thường trú: ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang và Nguyễn Ngọc Kim M1, sinh ngày 04/6/2009, nơi đăng ký thường trú: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang có dùng điện thoại quay lại video nhưng không có đăng lên mạng xã hội facebook, zalo.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 30/KLTTCT-TTPY ngày 05/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc T tại thời điểm giám định: Các chấn thương vùng mặt đã hồi phục không để lại dấu vết nên không xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và vật gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 31/KLTTCT-TTPY ngày 05/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Khánh A tại thời điểm giám định: Các chấn thương vùng mặt đã hồi phục không để lại dấu vết nên không xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và vật gây thương tích.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thị Mỹ N2 đã khắc phục hậu quả cho bị hại Nguyễn Ngọc T 1.000.000 đồng; Hồ Khánh A 1.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 44/CT-VKS-HCTA ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Lê Thị Mỹ N2 về tội: “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp bị hại Nguyễn Ngọc T có bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trình bày: Bà T1 mong rằng sau sự việc này bị cáo rút kinh nghiệm xương máu cho bản thân, không còn tái phạm, bà chấp nhận lời xin lỗi của bị cáo. Không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm tiền, về hình sự có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp bị hại Hồ Khánh A có bà Lê Thị L trình bày: Sau sự việc bị hại rất khủng hoảng về tinh thần nên bà L yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 8.000.000 đồng, về hình sự yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Mỹ N2 khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải xin giảm nhẹ hình phạt, có lời xin lỗi gửi đến gia đình hai bị hại và bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Hồ Khánh A số tiền 8.000.000 đồng.
Tại phiên tòa: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Hồ Khánh A có bà Lâm Thị M trình bày: Thống nhất với tội danh, khung hình phạt cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Sự việc xảy ra hai bị hại rất xấu hổ khi đi ra ngoài, có thời gian bị hại muốn nghỉ học không muốn gặp ai, cho thấy bị hại bị tổn thất về tinh thần và danh dự rất lớn. Đại diện bị hại K có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 8.000.000 đồng và bị cáo đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận, về hình sự bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Thị Mỹ N2 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ N2 từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thị Mỹ N2 tự nguyện bồi thường bị hại Hồ Khánh A số tiền 8.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí hình sự: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lê Thị Mỹ N2 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A; Điều tra viên; kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
- [2] Đối với người làm chứng Nguyễn Như N1 vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy lời khai của người này đã thể hiện rõ trong hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ là có căn cứ.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Thị Mỹ N2 thừa nhận hành vi phạm tội. Đối chiếu lời thừa nhận của người bị hại và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án là phù hợp, chứng minh được như sau: Do có mâu thuẫn từ trước nên vào ngày 24/10/2023, bị cáo Lê Thị Mỹ N2 hẹn Nguyễn Ngọc T và Hồ Khánh A để giải quyết mâu thuẫn, khi nói chuyện được khoảng 05 phút thì bị cáo N2 bắt buộc các bị hại Nguyễn Ngọc T và Hồ Khánh A khoanh tay, quỳ gối xin lỗi bị cáo, sau đó bị cáo đã dùng tay
đánh nhiều cái vào mặt bị hại A và bị hại T, bị cáo thực hiện hành vi đánh các bị hại ở đông người là quán cà phê.
- [4] Về tội danh: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, tâm lý của người chưa thành niên được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với hai người tại nơi đông người. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Làm nhục người khác” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với người dưới 16 tuổi quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị Mỹ N2, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị hại có yêu cầu giảm nhẹ cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
- [7] Xét về tính chất, mức độ phạm tội và hình phạt áp dụng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, bị cáo cho rằng hai bị hại nhắn tin nói xấu mình nên bị cáo đã có hành vi bắt buộc các bị hại khoanh tay và quỳ gối sau đó dùng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn với hai bị hại tại đám đông làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín và tâm lý của người bị hại rất lớn. Khi bị hại nhắn tin nói xấu bị cáo chỉ là những tin nhắn nội bộ giữa hai bị hại, không ảnh hưởng đến ngoài, khi nhắn tin hai bị hại chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức còn hạn chế. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức chính chắn hơn, bị cáo có thể dùng cách khác như yêu cầu bị hại xin lỗi mình và yêu cầu các bị hại cam kết không tái phạm nữa là đủ. Hành vi phạm tội gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang cho các bậc phụ huynh về tình trạng bạo lực học đường hiện nay. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, thời gian tại ngoại bị cáo không phạm tội mới, chấp hành tốt các yêu cầu của cơ quan tố tụng, bị cáo có nơi cư trú ổn định nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương quản lý cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo. Đồng thời, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
- [8] Về xử lý vật chứng: Không có.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lê Thị Mỹ N2 bồi thường thêm bị hại Hồ Khánh A số tiền 8.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại T không yêu cầu bồi thường thêm.
- [10] Đối với Nguyễn Như N3 và Huỳnh Kiều T2, quá trình điều tra xác định Ngọc và Trinh không có sự bàn bạc hoặc hành động giúp sức cho bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra không khởi tố N1, T2 là có căn cứ.
- [11] Đối với Nguyễn Ngọc Kim M1 và Lê Anh T3 có hành vi quay video cảnh bị cáo N2 đánh T và A. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được Mỹ hay T3 đăng lên mạng xã hội nên không xử lý Mỹ và T3 là phù hợp.
- [12] Đối với Đào Thị Kiều L1 đã có hành vi chia sẽ đoạn video cảnh bị cáo N2 dánh T và A nhưng không nhằm mục đích câu view, câu like hay nhằm nhục khác, mục đích chia sẽ để cho người thân hai bị hại vào can thiệp kịp thời sự việc nên không xử lý bà L1 là phù hợp.
- [13] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Xét thấy hành vi phạm tội không liên quan đến công việc của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [14] Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
- [15] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 155; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 293, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Mỹ N2 phạm tội “Làm nhục người khác”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Mỹ N2 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng: Không
- Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lê Thị Mỹ N2 bồi thường bị hại Hồ Khánh A số tiền 8.000.000 đồng.
Giao bị cáo Lê Thị Mỹ N2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Lê Thị Mỹ N2 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo C phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lê Thị Mỹ N2 phải chịu án phí hình sự là 200.000đồng và phải chịu án phí dân sự 400.000 đồng.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Á |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về hình sự (làm nhục người khác)
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm nhục người khác)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGA
