Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-PT

Ngày 03/5/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.

Các Thẩm phán: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng

Ông Nguyễn Quốc Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 27/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo Sơn T do có kháng cáo của các bị cáo Sơn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo: Sơn Thanh; Sinh ngày 20/06/1987; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Khóm Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: Khóm W, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sơn T1 và bà Lâm Thị S; Vợ: Sơn Thị Đa R; Con: 02 người con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/8/2023 và đến ngày 19/8/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt)

- Người bào chữa: Ông Võ Tuấn H – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; Đ chỉ: Số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác không liên quan đến kháng cáo Tòa án không triệu tập gồm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lý Vũ Trường K (Bèo), C, Sơn Thị Đa R, Sơn Sà R1; Người làm chứng: Lâm Phượng (T), S Ra

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 16/8/2023, Sơn T liên hệ với người đàn ông tên V (không rõ lai lịch và địa chỉ) mua được 01 (một) bịch ma túy lớn với giá 5.000.000 đồng cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Lâm P (T) điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở L Vũ Trường K (Bèo) đến chòi giữ tôm của Sơn T ở khóm W, phường V, thị xã V để mua ma túy sử dụng, lúc này P đậu xe đợi ngoài lộ đal, còn K đi lại chỗ chòi giữ tôm gặp Sơn T để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng thì Sơn T đồng ý bán. Sau đó, Sơn T lấy 01 (một) bịch ma túy lớn chiết ra thành 01 (một) bịch ma túy nhỏ để bán cho K, còn lại 01 (một) bịch ma túy lớn Sơn Thanh cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc để nhằm mục đích sử dụng cá nhân, khi Sơn T lấy 01 (một) bịch ma túy nhỏ cầm trên tay định đưa cho K nhưng chưa đưa được thì bị lực lượng Công an thị xã V ập vào bắt quả tang thu giữ 02 (hai) bịch ma túy của Sơn T.

Tại bản Kết luận giám định số 137/KLMT-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận như sau:

  • - Gói 01: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong (ma túy thu giữ của Sơn T lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1074 gam, loại Methamphetamine.
  • - Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong (ma túy thu giữ của Sơn T lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 6,2873 gam, loại Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy, loại Methamphetamine của 02 gói nêu trên là 6,3947 gam.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V thu giữ vật chứng gồm:

  • - Thu giữ đồ vật của Sơn Thanh gồm 01 (một) gói niêm phong bên trong có 0,0917 gam tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định (gói 01); 01 (một) gói niêm phong bên trong có 6,2374 gam tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định (gói 02); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh có sim số 0877913054 đã qua sử dụng, tiền VNĐ 300.000 đồng; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy màu đỏ trên nắp chai có đục hai lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng cam và ống thủy tinh dạng phễu (nó); 01 (một) ống hút nhựa màu trắng.
  • - Thu giữ đồ vật của Lý Vũ T2 Khanh gồm 01 (một) điện thoại di động hiệu N màu đen có sim số 0789757866 đã qua sử dụng, tiền VNĐ 12.000 đồng;
  • - Thu giữ đồ vật của Châu L1 gồm số tiền VNĐ 310.000 đồng;

Tất cả những vật chứng nêu trên đã giao cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu quản lý

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

2

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Sơn T.

Tuyên bố: Bị cáo Sơn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Sơn T 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

*Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 06/02/2024, bị cáo Sơn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
  • - Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và khung hình phạt thống nhất với Bản án sơ thẩm; Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy thống nhất với Bản án sơ thẩm; Về mức hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma túy cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 năm tù là có phần nghiêm khắc vì khối lượng bị cáo tàng trữ 6,2873 gam gần đầu khung, gia định bị cáo có người thân có công với cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét Đơn kháng của bị cáo lập và được nhà tạm giữ Công an thị xã V xác nhận vào ngày 06/02/2024 là đảm bảo về hình thức và nội dung kháng cáo, đúng người có quyền kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ xác định: Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 16/8/2023, Sơn T liên hệ với người đàn ông tên V (không rõ lai lịch và địa chỉ) mua được 01 (một) bịch ma túy lớn với giá

3

5.000.000 đồng cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Lâm P (T) điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở L Vũ Trường K (Bèo) đến chòi giữ tôm của Sơn T ở khóm W, phường V, thị xã V để mua ma túy sử dụng, lúc này P đậu xe đợi ngoài lộ đal, còn K đi lại chỗ chòi giữ tôm gặp Sơn T để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng thì Sơn T đồng ý bán. Sau đó, Sơn T lấy 01 (một) bịch ma túy lớn chiết ra thành 01 (một) bịch ma túy nhỏ để bán cho K, còn lại 01 (một) bịch ma túy lớn Sơn Thanh cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc để nhằm mục đích sử dụng cá nhân, khi Sơn T lấy 01 (một) bịch ma túy nhỏ cầm trên tay định đưa cho K nhưng chưa đưa được thì bị lực lượng Công an thị xã V ập vào bắt quả tang thu giữ 02 (hai) bịch ma túy của Sơn T.

Tại bản Kết luận giám định số 137/KLMT-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận như sau: - Gói 01: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong (ma túy thu giữ của Sơn T lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1074 gam, loại Methamphetamine. - Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong (ma túy thu giữ của Sơn T lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 6,2873 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy, loại Methamphetamine của 02 gói nêu trên là 6,3947 gam.

[3] Như vậy, Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo Sơn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tộ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo, về việc giảm hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Đồng thời, Hội đồng xét xử xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo dân tộc Khmer nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật và Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm tù là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo có nộp thêm xác nhận dì bà con của bị cáo là người có công, cauak bà con của bị cáo là liệt sĩ, tuy nhiên đây không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị cáo là chưa đủ căn cứ chấp nhận.

4

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo và không chấp nhận đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Điều 12, 14, Đ1 b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án. Như vậy, bị cáo là người kháng cáo quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm và cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên theo quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng. Tuy nhiên bị cáo thuộc diện được miễn án phí

[7] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sơn T về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
  • * Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Sơn T.
  • Xử phạt bị cáo Sơn T 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2023.
  • * Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • * Về án phí hình sự phúc thẩm:
  • - Căn cứ điều 12, điều 14 điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Bị cáo được miễn toàn bộ án phí.
  • 5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

5

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND Thị xã Vĩnh Châu;
  • - TAND Thị xã Vĩnh Châu;
  • - CQCSĐT - Công an Thị xã Vĩnh Châu;
  • - CQTHAHS - Công an Thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS Thị xã Vĩnh Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh Sóc Trăng;
  • - Ph. KTNV&THATAND T. Sóc Trăng;
  • - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hữu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-PT ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sơn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger