|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 44/2024/HS - ST Ngày 02-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành
Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Thế Hiệp
- Bà Hoàng Thị Len
- Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Bình Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Mai Văn B, sinh năm 1993; tại tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn C, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn K, sinh năm 1968 và bà Trịnh Thị D, sinh năm 1972; Có vợ chị Trần Thị C, sinh năm 1997 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Quyết định số 55A/QĐ-XPHC phạt tiền 5.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp tại biên lai số 0001764 ngày 23/8/2018; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Hữu G, thuộc Văn phòng luật sư Phạm Hữu L và cộng sự. Địa chỉ: Số nhà C, đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
* Bị hại: Anh Phạm Văn C1, sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
* Người làm chứng:
- Chị Phạm Thị Khánh L1, sinh ngày 14/9/2007
Người đại diện hợp pháp của chị L1: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1981
Đều trú tại: Tổ E, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Lê Văn B1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Có mặt: Bị cáo B, luật sư G, anh C1; Vắng mặt: Chị L1, bà H, anh B1)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 06/8/2023, bị cáo Mai Văn B cùng chị Phạm Thị Khánh L1 và một số người bạn uống bia tại quán bia ở khu vực chân cầu S, xã V, thành phố T. Trong lúc uống bia, chị L1 nói với bị cáo phải đi về nhà để trông cháu thì bị cáo nói “Ở đây uống bia đến trưa rồi về”, chị L1 nói “em không ở đây nữa đâu, em gọi bạn đến đón về đây”. Bị cáo nói “mày gọi ai đến đón, tao đánh”. Sau đó, chị L1 gọi điện cho bạn là anh Phạm Văn C1 đến đón. Do bực tức nên bị cáo đi bộ về nhà lấy 01 đoạn tuýp sắt loại phi 27, dài 66cm, khối lượng 0,7kg mang đến để ở chậu cây cảnh trên vỉa hè khu vực trước quán bia, mục đích để ai đến đón chị L1 sẽ đánh. Khoảng 8 giờ 47 phút cùng ngày, khi anh C1 điều khiển xe mô tô, loại xe SH, biển kiểm soát 17B2-51141 (không đội mũ bảo hiểm) đến dừng ở đầu ngõ gần quán bia để đón chị L1. Khi thấy anh C1 đến, bị cáo đi ra chậu cây cảnh lấy đoạn tuýp sắt cầm ở tay trái (là tay thuận của bị cáo), đi lại gần anh C1, đứng đối diện chếch về bên phải, cách anh C1 khoảng 01 mét, lúc này anh C1 đang ngồi trên yên xe, hai tay nắm ghi đông xe thì bị cáo dùng tay trái cầm tuýp sắt, ngả người về sau, giơ lên vụt 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, trúng vào vùng đầu phía sau. Sau đó bị cáo tiếp tục vụt thêm 01 nhát nữa trúng vào vùng lưng anh C1. Xe mô tô của anh C1 bị đổ xuống đường, anh C1 bỏ chạy, bị cáo tiếp tục đuổi theo vụt 01 nhát sượt vào tay, anh C1 tiếp tục bỏ chạy, bị cáo không đuổi nữa vất gậy sắt ở vệ đường rồi quay lại quán bia. Anh C1 bị bị cáo dùng tuýp sắt vụt vào đầu, lưng, tay, được anh Lê Văn B1 đưa ngay đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T
cấp cứu và cùng ngày được chuyển đến Bệnh viện V để phẫu thuật chấn thương sọ não do bị vỡ lún xương sọ đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng chẩm phải, tụ máu dưới màng cứng chẩm phải, vùng lưng bên trái có vết xước da biến đổi sắc tố, mặt sau cánh tay phải có vết xước da biến đổi sắc tố. Ngày 21/8/2023 anh C1 xuất viện, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 28%. Bị cáo sau khi đánh anh C1 đi về nhà khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo bắt xe khách bỏ trốn vào miền nam. Đến ngày 10/01/2024, bị cáo bị bắt tạm giam.
- Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 374/KLTTCT-TTPY ngày 03/10/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Phạm Văn C1 đã kết luận: Vùng thái dương chẩm phải có vết thương nhỏ đã cắt chỉ; ổ khuyết xương đỉnh phải đã được vá bằng vật liệu nhân tạo; máu tụ dưới màng cứng chẩm phải phải phẫu thuật không còn trên hình ảnh; Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 27%. Thương tích do vật tày cứng gây nên.
- Bản Kết luận giám định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể trên người sống số 234/KLTTCT-TTPY ngày 15/5/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Phạm Văn C1 đã kết luận: Vùng thái dương chẩm phải có vết thương nhỏ đã cắt chỉ; ổ khuyết xương đỉnh phải đã được vá bằng vật liệu nhân tạo; máu tụ dưới màng cứng chẩm phải phải phẫu thuật không còn trên hình ảnh; vùng lưng bên trái có vết xước da biến đổi sắc tố 0,5%; mặt sau cánh tay phải có vết xước da biến đổi sắc tố 0,5%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 28%.
- Bản cáo trạng số 41/CT-VKSTB ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Mai Văn B về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Mai Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mai Văn B phạm tội “Giết người”; Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 50, Điều 38, Điều 57 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Mai Văn B từ 10 năm đến 11 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 10/01/2024. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Văn C1 số tiền chi phí thực tế là 30.314.631 đồng và tiền tổn thất tinh thần từ 25 tháng đến 30 tháng lương cơ bản, tương đương số tiền 58.500.000 đồng đến 70.200.000 đồng. Đối trừ số tiền 20.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh C1 và 30.000.000 đồng nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh C1 tổng số tiền từ 38.814.631
đồng đến 50.514.631 đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 thanh tuýp kim loại màu xám hình trụ tròn dài 66cm, đường kính 2,7cm; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Về tội danh đối với bị cáo luật sư nhất trí, không có ý kiến gì. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét xử mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, đề nghị hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo bồi thường cho bị cáo mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo nhất trí với ý kiến tranh luận của luật sư bào chữa. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đầu thú ngày 06/01/2024.
Bị hại tranh luận: Đến nay bị hại vẫn chưa bồi thường thiệt hại xong, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại và rất ân hận về hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên toà, bị cáo, người bào chữa, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Mai Văn B thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng, phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Đơn trình báo ngày 06/8/2023 của bà Nguyễn Thị N (là mẹ đẻ của anh Phạm Văn C1); Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an xã V, thành phố T lập hồi 14 giờ ngày 06/8/2023; Biên bản khám nghiệm hiện trường của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T hồi 13 giờ ngày 06/8/2023; Biên bản giao nhận tài liệu đồ vật, dữ liệu điện tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập hồi 09 giờ 40 phút ngày 07/8/2023; Bản kết luận giám định số 1318/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng K1; Giấy chứng nhận thương tích ban đầu do Bệnh viện đa khoa tỉnh T cung cấp; Bệnh án do Bệnh viện V cung cấp; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể anh Phạm Văn C1; Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 374/KLTTCT-TTPY ngày 03/10/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Phạm Văn C1; Bản Kết luận giám định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể trên người sống số 234/KLTTCT-TTPY ngày 15/5/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Từ các tài liệu, chứng cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 06/8/2023, mặc dù không quen biết, không có mâu thuẫn với anh C1 nhưng bị cáo B đã dùng thanh tuýp sắt loại phi 27 dài 66cm, khối lượng 0,7kg là hung khí nguy hiểm vụt 01 nhát vào vùng đầu phía sau là vùng trọng yếu trên cơ thể dễ gây nguy hiểm đến tính mạng của anh C1 nếu không được cấp cứu kịp thời, 01 nhát vào vùng lưng anh C1, anh C1 bỏ chạy bị cáo tiếp tục đuổi theo vụt tiếp 01 nhát vào tay. Hậu quả: Anh C1 bị vỡ lún xương sọ đỉnh phải; tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng chẩm phải; thương tích vùng lưng trái và mặt sau cánh tay phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 28%, bị hại không bị nguy hiểm đến tính mạng là do được cấp cứu kịp thời. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo phạm vào tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
...
n) Có tính chất côn đồ;
...
[4] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương và tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
[5.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có căn cứ áp dụng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như ý kiến tranh luận của luật sư bào chữa. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị xem xét bị cáo ra đầu thú, xét thấy ngày 06/01/2024, bị cáo không bị tạm giữ và bị bắt tạm giam ngày 10/01/2024, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án không thể hiện bị cáo ra đầu thú. Do đó, không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích trên cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời là bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền khám điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T là 1.125.653 đồng, tiền thuốc 4.599.000 đồng, tiền phẫu thuật tại Bệnh viện V 8.615.889, tiền điều trị nội trú tại bệnh viện V 6.531.249 đồng, tiền thuốc tại bệnh viện V 1.152.700 đồng, tiền khám lại 340.140 đồng, tiền xe cấp cứu 1.900.000 đồng, tiền xe đi khám lại 1.000.000 đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất trong 15 ngày của anh C1 và người chăm sóc là 3.250.000 đồng, tiền ăn của anh C1 và người chăm sóc trong 15 ngày 1.800.000 đồng, tổng là 30.314.631 đồng là các chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi thường, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị giảm sút và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc. Bị hại yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 90.000.000 đồng, bị hại yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần là tối đa theo quy định của pháp luật, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền tổn thất tinh thần là 70.000.000 đồng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 100.314.631 đồng là phù hợp quy định các Điều 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự. Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường tiếp 50.314.631 đồng.
[8] Vật chứng vụ án: Theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. 01 thanh tuýp kim loại màu xám hình trụ tròn dài 66cm, đường kính 2,7cm là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo Mai Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn B phạm tội “Giết người”.
- Hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, Điều 50, Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Mai Văn B 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 10/01/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự. Buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Phạm Văn C1 số tiền 100.341.631 đồng, đã bồi thường cho anh C1 được 20.000.000 đồng và 30.000.000 đồng theo Biên lai số 0000642 ngày 22/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình. Buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 50.341.631 đồng.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 thanh tuýp kim loại màu xám hình trụ tròn dài 66cm, đường kính 2,7cm. (Số vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 02/7/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình).
- Án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Mai Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.517.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Phạm Ngọc Thành |
Bản án số 44/2024/HS - ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự về tội giết người
- Số bản án: 44/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Mai Văn B phạm tội giết người
